A-tỳ-đạt-ma Đại Tỳ-bà-sa Luận · Quyển 197
阿毘達磨大毘婆沙論 · T1545
Hán văn
若法與彼法作所緣或時此法與彼法非 所緣耶。答無時非所緣。問何故作此論。答 欲止愚於所緣緣法執所緣緣法無實體 性。顯所緣緣是實有法故作斯論。此中無 時非所緣者以心心所法於所緣定故。問 云何心心所法於所緣定。為於處定。為於 青等定。為於剎那定耶。此中有說。心心 所法但於處定非於青等及剎那定。所以 者何。若於青等及剎那定者則無量心心所 法住不生法中。欲令無如是過故唯於處 定。問若唯於處定者彼色處中有青黃等 多種色性。若於此不定者彼了青覺則了。 黃等餘亦如是。不可一覺有多了性無二 決定故。有說。心心所法於處定。亦於青等 定非於剎那定。所以者何。若於剎那定者 則無量心心所法住不生法中。勿有斯過 是故不說於剎那定。問若爾者如青色中 有多種青。謂青根青莖青枝青葉青花青果。 若當於此不說定者彼了根覺則了。莖 等餘亦如是。不可一覺有多了性無二決 定故。如是說者。心心所法於三事定。問若 爾者則應無量心心所法住不生法中。答即 無量心心所法住不生法中復有何過。未來 世寬無容處耶。然彼本來已有住處。問心 心所法如於所緣定亦於所依定耶。答於 所依亦定。謂眼等五識及相應法。在未來 世與所依遠。現在則俱過去復遠。有說。未 來與所依遠。現在過去與所依俱。餘義廣 說如雜蘊智納息。 若法與彼法作增上。或時此法與彼法非 增上耶。答無時非增上。問何故作此論。答 為止愚於增上緣性執增上緣非實有者 意。顯增上緣體性實有故作斯論。問緣和 合故諸法生滅。此緣無有不和合時。諸法云 何不恒生滅。尊者世友作如是言。諸法生 滅和合各異。謂餘緣和合故諸法生。餘緣和 合故諸法滅。是故不恒生滅。復次此法生已 餘法隨生有多剎那次第隣逼。是故無有重 生功能如人墮涯隤壤所壓欲起復壓。彼 人爾時尚不能動何況得起。諸法亦然。是 故無有恒生滅過。餘義廣說如雜蘊智納 息。諸意觸彼一切三和合觸耶。乃至廣說。問 何故作此論。答欲止他宗顯己義故。謂或 有執。心所則心。或有說。觸則根境識。為 止彼意顯心所非心別有觸體與心相應。 又為止他疑故。謂或有疑眼觸乃至身觸 名三和合是義可爾。彼根境識俱時生故意 觸亦名三和合觸云何可爾。所以者何。意 根過去意識現在法或三世或離世故。今欲 決定顯意觸亦名三和合。觸以互不相違 共生一果名為和合非唯俱起名和合故。 由此因緣故作斯論。諸意觸彼一切三和合 觸耶。答諸意觸彼一切三和合觸。無觸不 因三和合故。有三和合觸非意觸。謂五識 身相應觸。故世尊說苾芻當知。有意界有 法界有無明界。無明觸所生受。受所觸故 無聞愚夫便執有執無。或執有無。此中有 意界者謂過去意界。有法界者謂三世法 界。有無明界者謂現在無明界。無明觸等者 謂於無我事愚。便執有者。謂起常見。便執 無者謂起斷見。或執有無者謂起斷常見。 脇尊者言。此中意說。於自體愚名無明界。 彼無間滅六識身名意界。爾時心心所法所 於轉者名法界。無明觸等如前說。問五識 相應觸由現在根境識。有名三和合觸是 義可爾。意識相應觸根在過去境或未來識 在現在云何名三和合觸。答和合有二種。 一俱起不相離名和合。二不相違同辦一 事名為和合。五識相應觸由二和合故名 和合。意識相應觸由辦一事和合故名和 合。所以者何。如五識根境現在所有作用如 是。意識根境異世作用亦爾。是故尊者妙音 作如是說。以根境識同辦一事故名和合。 非以俱起不相離故名為和合。如此三法 隨在何時皆能展轉辦一事故盡名和合。 有餘於此作增益文。諸眼觸乃至身觸彼一 切三和合觸耶。答諸眼觸乃至身觸彼一切三 和合觸。有三和合觸非眼觸乃至身觸。謂意 識身相應觸然今不作如是說者有何意 耶。欲顯此中但成立不極成義。眼觸乃至身 觸名三和合觸義自成立故不說之。意觸 名三和合觸義非極成是以故。說由此如 前所誦者好。諸慢彼一切自執耶。乃至廣說。 問此見蘊中但應分別見何故分別慢耶。 答彼作論者意欲爾故乃至廣說。有說。以相 似故謂一切煩惱中無有煩惱非見自性。 而似見轉猶如慢者。有說。先已說一一蘊 中分別一切法。若此蘊中不分別慢者。云 何名一一蘊分別一切法耶。是故此中亦 分別慢諸慢彼一切自執耶。答諸慢彼一切 自執。以慢是自舉自恃執競法故。有自執 非慢。謂諸見趣。故世尊說苾芻當知。自執 有我自執有我所。此中自執有我者顯示 我見。自執有我所者顯示我所見。復次自 執有我者顯示五我見。自執有我所者顯 示十五我所見。復次自執有我者顯示我執 行相。自執有我所者顯示我所執行相。有 作是說。自執有我者顯示我愛。自執有我 所者顯示我所愛。有餘師說。自執有我者 顯示我愚。自執有我所者顯示我所愚。 復有說者。自執有我者顯示無別異事薩迦 耶見。自執有我所者顯示有別異事薩迦耶 見。一切煩惱中無有煩惱非慢自性而似 慢轉。猶如見者故說見趣自執非慢。 諸慢彼一切不寂靜耶。問何故復作此論。答 前唯分別慢與見相似行相。未分別與一 切煩惱相似行相。今欲分別故作斯論。諸 慢彼一切不寂靜耶。答諸慢彼一切不寂靜。 以慢是自舉自恃執競法故。有不寂靜非 慢。謂餘煩惱現在前。故世尊說苾芻當知。 動為魔所縛不動脫惡者。此中餘煩惱者。 謂見疑無明貪瞋纏垢。現在前者顯不寂靜 相。問何故現在煩惱有不寂靜相非過去未 來耶。答現在煩惱於自身中障礙聖道及 聖道加行。過去未來煩惱不爾。復次現在煩 惱於自身中能取果與果。過去未來煩惱不 爾。復次現在煩惱於自身中能取等流果異 熟果。過未煩惱不爾。復次現在煩惱能令自 身成可訶責可厭賤可遠離。過未煩惱不爾。 復次現在煩惱燒然自身損壞自身逼惱 自身。過未煩惱不爾。復次現在煩惱自害害 他。或復俱害。過未煩惱不爾。復次現在煩 惱是不寂靜性。有不寂靜用是故說之。過 去未來煩惱是不寂靜性。無不寂靜用是以 不說。動為魔所縛等者。此中初句顯不寂 靜者為煩惱魔所縛。後句顯寂靜者解脫天 魔。性弊惡者唯天魔故。有餘師說。此中二句 皆顯示煩惱魔性。以諸煩惱害善法故說 名為魔。起惡業故復名惡者。若諸有情不 寂靜時為煩惱所縛。若能寂靜修習對治 則於煩惱便得解脫。諸業彼不律儀耶。答 應作四句。有業非不律儀。謂身語律儀。有 不律儀非業謂根不律儀。有業亦不律儀謂 身語不律儀。有非業亦非不律儀謂根律 儀。諸業彼律儀耶。答應作四句。有業非律 儀謂身語不律儀。有律儀非業謂根律儀。 有業亦律儀謂身語律儀。有非業亦非律 儀謂根不律儀。問此中根律儀根不律儀以 何為自性。有作是說。根律儀以念正知為 自性。根不律儀以忘念不正知為自性。云 何知然。經為量故。如契經說。時有天神告 苾芻曰。苾芻苾芻莫生瘡疣。苾芻答曰我 當覆之。天復問言瘡疣既大以何能覆。苾 芻答言我當以念正知覆之。天則讚言善 哉善哉。能如是覆是為善覆。由此故知根 律儀以念正知為自性。根不律儀以忘念 不正知為自性。問若然者經云何通。如契 經說念及正知滿足故能滿足根律儀。豈以 自性滿足自性耶。答念及正知有因性有 果性。因性者以念正知名說。果性者以律 儀名說。以因滿故令果圓滿是故無過。有 說。根律儀以不放逸為自性。根不律儀以 放逸為自性。有說。根律儀以六恒住法為 自性。根不律儀以依六根生諸煩惱為自 性。有說。根律儀以根永斷遍知諸妙行善 根為自性。根不律儀以根不永斷不遍知諸 煩惱惡行不善根為自性。如是則以妙行 惡行為根律儀根不律儀體。有說。根律儀 以不成就根不永斷不遍知。及成就彼對治 道為自性。根不律儀以成就根不永斷不遍 知。及不成就彼對治道為自性。如是根律 儀根不律儀俱以成就不成就為體。有說。根 律儀以不染污法為自性。根不律儀以染 污法為自性。如是根律儀根不律儀俱以五 蘊為其體性。昔迦濕彌羅國招吉祥僧伽藍 中有兄弟二阿羅漢。俱是法師世稱為難地 迦子。彼說根律儀根不律儀。俱以無覆無記 不相應行蘊中根律儀。根不律儀為自性。此 自性成立謂體是實有。此則攝在復有所餘 心不相應行中。問若根律儀根不律儀。俱以 無覆無記行蘊為自性者。此有何差別。答 此無覆無記行蘊有隨順善品者。有隨順 煩惱品者。順善品者名根律儀。順煩惱品 者名根不律儀。 若事未得彼不成就耶乃至廣說。於前所說 五種十種事中。此中依自性事而作論。欲 止說無成就不成就性者意。顯成就不成 就性是實有故。若事未得彼不成就耶。答若 事未得彼不成就。謂不淨觀持息念念住三 義觀七處善。煗頂忍世第一法。見道修道無 學道。如是等事若未得彼不成就。有事不成 就非未得。謂得已失此謂則前不淨觀等。 非未得而不成就。若事已得彼成就耶。答若 事成就彼已得。謂則前不淨觀等得已不 失。有事已得而不成就。謂得已失此謂則 前不淨觀等已得而失。 除苦聖諦及法處乃至廣說。問何故作此 論。答為止他宗顯己義故。謂或有說。諸 法攝他性不攝自性。集諦唯愛。道諦唯是 八支聖道。或說法處攝一切法。或說法處 唯是非色。或復說無去來二世。或說五識 唯無記性。為遮此等種種僻執。及顯法相 相應義故而作斯論。除言有二意趣。一欲 安立。二欲遮遣。此中除言為欲遮遣除苦 聖諦及法處餘法二界一處一蘊攝。此中苦 聖諦謂一切有漏法則十五界。三界少分。十 處二處少分。五蘊少分。法處謂七種法則想 受行蘊無表色三無為。餘法謂無漏心。是故 此法二界謂意界意識界。一處謂意處。一蘊 謂識蘊攝。除集聖諦及法處說亦爾。苦集義 異體不異故。除滅聖諦及法處餘法十七界 十一處二蘊攝。此中滅聖諦謂擇滅無為。則 法界法處少分。法處謂七種法如前說。餘法 謂有對色及一切心是故此法十七界十一處 二蘊攝。除道聖諦及法處說亦爾。此中以 所攝量同故言亦爾。然道聖諦謂無漏有為 法。則三界意界意識界法界。二處則意處 法處。五蘊少分法處如前說。餘法謂有對色 及有漏心。是故此法十七界十一處二蘊 攝。 除有色法及法處。餘法七界一處一蘊攝。此 中有色法謂四大種及所造則十界。一界少 分十處一處少分一蘊法處如前說。餘法謂 一切心是故此法七心界一處一蘊攝。除無 色法及法處。餘法十界十處一蘊攝。此中無 色法。謂心心所法不相應行無為則七心界。 一界少分一處一處少分。四蘊除色蘊法處 如前說。餘法謂一切有對色是故此法十界 十處一蘊攝。除有見法及法處。餘法十六界 十處二蘊攝。此中有見法謂眼所行則一界 一處及一蘊少分。法處如前說。餘法謂無見 有對色及一切心。是故此法十六界除色界 法界。十處除色處法處。二蘊所攝色識。除 無見法及法處。餘法一界一處一蘊攝。此中 無見法謂除眼所行。餘一切法則十七界。 十一處四蘊一蘊少分。法處如前說。餘法謂 眼所行是故此法一界一處一蘊攝。除有對 法及法處。餘法七界一處一蘊攝。此中有對 法謂除無表。餘一切色則十界十處及一蘊 少分。法處如前說。餘法謂一切心是故此 法七心界一處一蘊攝。除無對法及法處。餘 法十界十處一蘊攝。此中無對法謂除有對 色。餘一切法則八界二處四蘊一蘊少分。法 處如前說。餘法謂一切有對色是故此法十 界十處一蘊攝。除有漏法及法處。餘法二界 一處一蘊攝。此中有漏法謂苦集諦。則十五 界。三界少分十處二處少分五蘊少分。法處 如前說。餘法謂無漏心。是故此法二界一處 一蘊攝。除無漏法及法處。餘法十七界十一 處二蘊攝。此中無漏法謂滅道諦及二無為。 則三界二處五蘊少分。法處如前說。餘法 謂有對色及有漏心。是故此法十七界十一 處二蘊攝。除有為法及法處。此除一切法 而問餘法是無事空論。此中有為法謂苦集 道諦則十七界。一界少分十一處一處少分 五蘊。法處如前說。除此更無餘法可攝。是 故此名無事空論。除無為法及法處。餘法十 七界十一處二蘊攝。此中無為法謂虛空擇 滅非擇滅則一界一處少分。法處如前說。 餘法謂有對色及一切心。是故此法十七界 十一處二蘊攝。除過去法及法處。餘法十七 界十一處二蘊攝。此中過去法謂已生已滅諸 法則十八界十二處五蘊少分。法處如前 說。餘法謂未來現在有對色及心。是故此法 十七界十一處二蘊攝。除未來法現在法及 法處說亦爾。時別類不別故除善法及法處。 餘法十七界十一處二蘊攝。此中善法謂能 得愛果自性安隱法。則十界四處五蘊少分。 法處如前說。餘法謂不善無記有對色及心。 是故此法。十七界十一處二蘊攝。除不善法 及法處說亦爾。類別攝不別故。除無記法 及法處。餘法九界三處二蘊攝。此中無記。法 謂不得愛不愛果。及非自性安隱法。即八 界十界少分八處四處少分五。蘊少分。法處 如前說。餘法謂善不善有對色及心。是故此 法九界三處二蘊攝。除欲界繫法及法處。餘 法十三界九處二蘊攝。此中欲界繫法。謂欲 愛所隨增即四界十四界少分二處十處少 分五蘊少分。法處如前說。餘法謂色界繫有 對色及色無色界繫不繫心。是故此法十三界 九處二蘊攝。除色界繫法及法處。餘法十七 界十一處二蘊攝。此中色界繫法謂色愛所 隨增。則十四界十處五蘊少分。法處如前 說。餘法謂欲界繫有對色及欲無色界繫不 繫心。是故此法十七界十一處二蘊攝。無色 界繫法學法無學法及法處說亦爾。此以所 攝數量同故。除非學非無學法及法處。餘法 二界一處一蘊攝。此中非學非無學法謂一 切有漏及無為法。則十五界三界少分十處 二處少分五蘊少分。法處如前說。餘法謂無 漏心。是故此法二界一處一蘊攝。除見所斷 法及法處。餘法十七界十一處二蘊攝。此中 見所斷法謂忍所對治。即三界二處四蘊少 分。法處如前說。餘法謂一切有對色。及修所 斷不斷心。是故此法十七界十一處二蘊攝。 除修所斷法及法處。餘法二界一處一蘊攝。 此中修所斷法謂智所對治。則十五界三界 少分十處二處少分五蘊少分。法處如前說。 餘法謂見所斷不斷心。是故此法二界一處 一蘊攝。除不斷法及法處。餘法十七界十一 處二蘊攝。此中不斷法謂一切無漏法。即三 界二處五蘊少分。法處如前說。餘法謂一切 有對色及有漏心。是故此法十七界十一處 二蘊攝。 除已生法及定不生法。餘法十八界十二處 五蘊攝。此中已生法謂過去現在即十八界 十二處五蘊少分。定不生法謂過去現在法。 及未來必不生法。并無為已生故得不生故 無生故。決定不生此亦十八界十二處五蘊 少分。餘法謂正生及可生法。是故此法亦十 八界十二處五蘊攝。除非已生法及定不生 法。此除一切法。問餘法是無事空論。此中 非已生法謂未來法及無為。即十八界十二 處五蘊少分。定不生法如前說。除此更無 餘法可攝。是故說為無事空論。除有色法 及定不生法。餘法八界二處四蘊攝。此中有 色法及定不生法如前說。餘法謂正生可生 諸心心所心不相應行。是故此法八界二處 四蘊攝。除無色法及定不生法。餘法十一界 十一處一蘊攝。此中無色法及定不生法如 前說。餘法謂正生可生諸有色法。是故此法 十一界十一處一蘊攝。除有見法及定不生 法。餘法十七界十一處五蘊攝。此中有見法 及定不生法如前說。餘法謂正生可生諸無 見法。是故此法十七界十一處五蘊攝。除無 見法及定不生法。餘法一界一處一蘊攝。此 中無見法及定不生法如前說。餘法謂正生 可生諸有見色。是故此法一界一處一蘊攝。 除有對法及定不生法。餘法八界二處五蘊 攝。此中有對法及定不生法如前說。餘法謂 正生可生諸無對法。是故此法八界二處五 蘊攝。除無對法及定不生法。餘法十界十處 一蘊攝。此中無對法及定不生法如前說。餘 法謂正生可生諸有對色。是故此法十界十處 一蘊攝。除有漏法及定不生法。餘法三界二 處五蘊攝。此中有漏法及定不生法如前說。 餘法謂正生可生諸無漏法。是故此法三界 二處五蘊攝。除無漏法及定不生法。餘法十 八界十二處五蘊攝。此中無漏法及定不生 法如前說。餘法謂正生可生諸有漏法。是故 此法十八界十二處五蘊攝。除有為法及定 不生法此除一切法。問餘法是無事空論。 此中有為法及定不生法如前說。除此更無 餘法可攝。是故說為無事空論。除無為法及 定不生法。餘法十八界十二處五蘊攝。此中 無為法及定不生法如前說。餘法謂正生可 生諸有為法。是故此法十八界十二處五蘊 攝。除過去法現在法及定不生法說亦爾。此 中餘法俱謂正生可生諸有為法。是故此法。 皆十八界十二處五蘊攝。除未來法及定不 生法此除一切法問餘法是無事空論。此 中未來法及定不生法具攝一切有為無為 法。除此更無餘法可攝是故說為無事空 論。除善法及定不生法。餘法十八界十二處 五蘊攝。此中善法及定不生法如前說。餘法 謂正生可生諸不善無記法。是故此法十八 界十二處五蘊攝。除不善法及定不生法說 亦爾。以於餘法所攝同故。除無記法及定 不生法。餘法十界四處五蘊攝。此中無記法 及定不生法如前說。餘法謂正生可生善不 善法。是故此法十界四處五蘊攝。除欲界繫 法及定不生法。餘法十四界十處五蘊攝。此 中欲界繫法及定不生法如前說。餘法謂正 生可生色無色界繫及不繫法。是故此法十 四界十處五蘊攝。除色界繫法及定不生法。 餘法十八界十二處五蘊攝。此中色界繫法 及定不生法如前說。餘法謂正生可生欲無 色界繫不繫法。是故此法十八界十二處五 蘊攝。除無色界繫法學法無學法。及定不生 法說亦爾。以於餘法攝數同故。除非學 非無學法及定不生法。餘法三界二處五蘊 攝。此中非學非無學法。及定不生法如前說。 餘法謂正生可生學無學法。是故此法三界 二處五蘊攝。除見所斷法及定不生法。餘法 十八界十二處五蘊攝。此中見所斷法及定 不生法如前說。餘法謂正生可生修所斷不 斷法。是故此法十八界十二處五蘊攝。除修 所斷法及定不生法。餘法三界二處五蘊攝。 此中修所斷法及定不生法如前說。餘法謂 正生可生見所斷不斷法。是故此法三界二 處五蘊攝。除不斷法及定不生法。餘法十八 界十二處五蘊攝。此中不斷法及定不生法 如前說。餘法謂正生可生見修所斷法。是故 此法十八界十二處五蘊攝。 頗有一界一處一蘊攝一切法耶。答有。一 界謂法界。一處謂意處。一蘊謂色蘊。如是 則攝一切法盡。所以者何。一切法不出五 事。謂色心心所法不相應行無為色蘊攝色。 意處攝心。法處攝餘。是故攝一切法。復次 一切法不出十八界。於中色蘊攝十色界。 意處攝七心界。法界攝法界故攝一切法。 復次一切法皆入蘊界處中。此三展轉相攝。 謂色蘊攝十色界十色處法界法處少分。意 處攝七心界。識蘊法界攝法處受想行蘊色 蘊少分。是故此三攝一切法。
Việt dịch
QUYỂN 197 LUẬN VỀ TRÍ (Phần 2) Hỏi: Nếu pháp làm Sở duyên cho pha ùp ấy, thì có lúc pháp này không phải là Sở duyên cho pháp ấy chăng? Đáp: Không có lúc nào không phải là Sở duyên. Hỏi: Vì sao soạn ra phần luận này? Đáp: Vì ngăn chặn ý của người ngu đối với pháp Sở duyên duyên chấp rằng pháp Sở duyên duyên không có Thể tánh thật sự, hiển bày về Sở duyên duyên là pháp có thật, cho nên soạn ra phần luận này. Trong này, không có lúc nào không phải là Sở duyên, bởi vì tâm- tâm sở pháp xác định đối với sở duyên. Hỏi: Thế nào là tâm-tâm sở pháp xác định đối với sở duyên, là xác định đối với nơi chốn, hay là xác định đối với màu sắc xanh-vàng…, hay là xác định đối với sát-na? Đáp: Trong này có người nói: Tâm-tâm sở pháp chỉ xác định đối với nơi chốn, không phải là xác đị nh đối với màu sắc xanh-vàng… và sát-na. Nguyên cớ thế nào? Bởi vì nếu xác định đối với màu sắc xanh- vàng… và sát-na, thì vô lượng tâm-tâm sở pháp trú trong pháp không sinh khởi, muốn làm cho không có lỗi như vậy, cho nên chỉ xác định đối với nơi chốn. Hỏi: Nếu chỉ xác định đối với nơi chốn thì trong Sắc xứ ấy có nhiều loại Sắc tánh như xanh-vàng…; nếu đối với loại này không xác định, lúc ấy rõ ràng màu xanh thì nhận biết vẫn rõ ràng, đỏ-vàng…còn lại cũng như vậy. Không có thể cùng một sự nhận biết mà có nhiều tánh rõ ràng, bởi vì không có hai quyết định? Đáp: Có người nói: Tâm-tâm sở pha ùp xác định đối với nơi chốn, cũng xác định đối với màu sắc xanh-vàng…, chứ không phải là xác định đối với sát-na. Nguyên cớ thế nào? Bởi vì nếu xác định đối với sát-na SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 197 811 www.daitangkinh.org thì vô lượng tâm-tâm sở pháp trú trong pháp không sinh khởi, đừng có lỗi này cho nên không nói là xác định đối với sát-na. Hỏi: Nếu như vậy thì như trong màu xanh có nhiều loại xanh, đó là gốc xanh-thân xanh-cành xanh-lá xanh-hoa xanh-quả xanh; nếu đối với loại này không nói xác định, lúc ấy rõ ràng là gốc thì nhận biết vẫn rõ ràng, thân-cành…còn lại cũng như vậy. Không có thể cùng một sự nhận biết mà có nhiều tánh rõ ràng, bởi vì không có hai quyết định? Nói như vậy thì tâm-tâm sở pháp xác định đối với ba loại. Hỏi: Nếu như vậy thì vô lượng tâm- tâm sở pháp trú trong pháp không sinh khởi? Đáp: Cho dù vô lượng tâm-tâm sở pháp trú trong pháp không sinh khởi thì đâu có lỗi gì, đời vị lai rộng rãi không có nơi dung nạp hay sao? Nhưng mà pháp ấy trước đây đã có nơi tồn tại. Hỏi: Tâm-tâm sở pháp nếu như xác định đối với sở duyên thì cũng xác định đối với sở y chăng? Đáp: Đối với sở y cũng xác định, đó là năm Thức như Nhãn… và pháp tương ưng, ở đời vị lai cách xa với sở y, hiện tại thì cùng với quá khứ lại cách xa. Có người nói: Vị lai cách xa với sở y, hiện tại-quá khứ cùng chung với sở y. Nghĩa còn lại nói rộng ra như phẩm luận về Trí trong chương Tạp Uẩn. Hỏi: Nếu pháp làm Tăng thượng cho pháp ấy, thì có lúc pháp này không phải là Tăng thượng cho pháp ấy chăng? Đáp: Không có lúc nào không phải là Tăng thượng. Hỏi: Vì sao soạn ra phần luận này? Đáp: Vì ngăn chặn ý của người ngu đối với tánh của Tăng thượng duyên chấp rằng Tăng thượng duyên không phải là có thật, hiển bày về Thể tánh của Tăng thượng duyên là c ó thật, cho nên soạn ra phần luận này. Hỏi: Duyên hòa hợp cho nên các pháp sinh diệt, duyên này không có lúc nào không hòa hợp, tại sao các pháp không luôn luôn sinh diệt? Đáp: Tôn giả Thế Hữu đưa ra cá ch nói như vậy: “Các pháp sinh diệt hòa hợp khác nhau, nghĩa là duyên khác hòa hợp cho nên các pháp sinh ra, duyên khác hòa hợp cho nên cá c pháp diệt đi, vì thế cho nên không luôn luôn sinh diệt.” Lại nữa, pháp này sinh rồi thì pháp khác sinh theo, có nhiều sát-na lần lượt áp sát nhau, vì thế cho nên không có công năng sinh khởi trở 812 BỘ TỲ ĐÀM 6 lại; như người rơi xuống vách núi, do đa át đá sụt lở đè ép mà sắp đứng lên lại bị đè xuống, người ấy lúc bấy giờ còn không có thể cử động được, huống gì đứng dậy được? Các pháp cũng như vậy, vì thế cho nên không có lỗi luôn luôn sinh diệt. Nghĩa còn lại nói rộng ra như phẩm luận về Trí trong chương Tạp Uẩn. Các Ý xúc thì lúc ấy tất cả các Xúc là do ba hòa hợp chăng? Cho đến nói rộng ra. Hỏi: Vì sao soạn ra phần luận này? Đáp: Vì muốn ngăn chặn tông chỉ của người khác để hiển bày nghĩa lý của mình. Đó là hoặc có người chấp: Tâm sở tức là tâm. Hoặc có người nói: Xúc tức là Căn-Cảnh-Thức. Vì ngăn chặn ý chấp ấy, hiển bày về tâm sở không phải là tâm, mà có Thể của Xúc riêng biệt tương ưng với tâm. Lại vì ngăn chặn sự nghi ngờ của người khác, đó là hoặc có người nghi rằng Nhãn xúc cho đến Thân xúc gọi là ba hòa hợp thì nghĩa có thể như vậy, bởi vì Căn-Cảnh-Thức ấy cùng lúc sinh khởi, Ý xúc cũng gọi là Xúc do ba hòa hợp thì làm sao có thể như vậy? Nguyên cớ thế nào? Bởi vì Ý căn là quá khứ, Ý thức la ø pháp hiện tại, hoặc là ba đời, hoặc là tách rời thời gian. Nay muốn quyết định hiển bày về Ý xúc cũng gọi là Xúc do ba hòa hợp, bởi vì khôn g trái ngược lẫn nhau, cùng sinh ra một quả gọi là hòa hợp, chứ không phải là chỉ cùng lúc khởi lên gọi là hòa hợp. Bởi vì nhân duyên này, cho nên soạn ra phần luận này. Hỏi: Các Ý xúc thì lúc ấy tất cả các Xúc la ø do ba hòa hợp chăng? Đáp: Các Ý xúc thì lúc ấy tất cả các Xúc là do ba hòa hợp, bởi vì không có Xúc nào không do ba hòa hợp. Có Xúc do ba hòa hợp mà không phải là Ý xúc, đó là năm Thức thân tương ưng với Xúc. Vì vậy Đức Thế Tôn nói rằng: “Tỳ kheo nên biết! Có Ý giới, có Pháp giới, có Vô minh giới, Vô minh do Xúc mà sinh ra Thọ, do Thọ mà Xúc, cho nên người ngu không có hiểu biết liền chấp có, chấp không có, hoặc là chấp có-không có.” Trong này, có Ý giới, đó là Ý giới quá khứ; có Pháp giới, đó là Pháp giới ba đời; có Vô minh giới, đó là Vô minh giới hiện tại; Vô minh do Xúc…, đó là ngu muội đối với Sự thuộc về Vô ngã; liền chấp có, đó là khởi lên Thường kiến; liền chấp không có, đó là khởi lên Đoạn kiến; hoặc là chấp có-không có, đó là khởi lên Đoạn kiến-Thường kiến. SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 197 813 www.daitangkinh.org Hiếp Tôn giả nói: “Trong này ý nói: Ngu muội đối với tự Thể gọi là Vô minh giới, sáu Thức thân a áy không ngừng diệt đi gọi là Ý giới, lúc bấy giờ do tâm-tâm sở pháp mà chuyển gọi là Pháp giới, Vô minh do Xúc… nói như trước.” Hỏi: Năm Thức tương ưng với Xúc do Căn-Cảnh-Thức hiện tại mà có, gọi là Xúc do ba hòa hợp th ì nghĩa này có thể như vậy; Ý thức tương ưng với Xúc thì Căn ở quá khứ, Cảnh hoặc là vị lai, Thức ở hiện tại, làm sao gọi là Xúc do ba hòa hợp? Đáp: Hòa hợp có hai loại: 1- Cùng lúc khởi lên không tách rời nh au thì gọi là hòa hợp; 2-Cùng làm một việc không trái ngược nhau thì gọi là hòa hợp. Năm Thức tương ưng với Xúc dó hai loại hòa hợp cho nên gọi là hòa hợp, Ý thức tương ưng với Xúc do hòa hợp cùng làm một việc cho nên gọi là hòa hợp. Nguyên cớ thế nào? Bởi vì như năm Thức , Căn-Cảnh hiện tại vốn có tác dụng như vậy, Căn-Cảnh của Ý thức khá c nhau về đời, c ho nên tác dụng cũng khác nhau. Vì thế cho nên Tôn giả Diệu Âm đưa ra cách nói như vậy: “Bởi vì Căn-Cảnh-Thức cùng làm một việc cho nên gọi là hòa hợp, không phải là bởi vì cùng lúc khởi lên không tách rời nhau cho nên gọi là hòa hợp. Như ba pháp này hễ ở bất cứ lúc nào, cũng đều có thể lần lượt chuyển đổi cùng làm một việc, cho nên đều gọi là hòa hợp.” Có người khác đối với điều này đưa ra văn thêm nhiều: Hỏi: “Các Nhãn xúc cho đến Thân xúc thì lúc ấy tất cả các Xúc là do ba hòa hợp chăng? Đáp: Các Nhãn xúc cho đến Thân xúc thì lúc ấy tất cả các Xúc là do ba hòa hợp. Có Xúc do ba hòa hợp mà không phải là Nhãn xúc cho đến Thân xúc, đó là Ý thức thân tương ưng với Xúc.” Nhưng nay không đưa ra cách nói này là có ý gì? Bởi vì muốn hiển bày trong này chỉ thành lập về nghĩa thành tựu không đến mức cuối cùng, Nhãn xúc cho đến Thân xúc gọi là Xúc do ba hòa hợp, nghĩa tự nhiên thành lập cho nên không nói đến; Ý xúc gọi là Xúc do ba hòa hợp, nghĩa không phải là thành tựu đến mức cuối cùng, vì vậy cho nên nói đến. Do đó như trước đã tụng là hợp lý. Các Mạn thì tất cả Mạn ấy là tự mình chấp hay sao? Cho đến nói rộng ra. Hỏi: Trong chương Kiến Uẩn này chỉ cần phân biệt về Kiến, tại sao phân biệt về Mạn? Đáp: Bởi vì đó là ý của người soạn luận muốn như vậy, cho đến nói rộng ra. 814 BỘ TỲ ĐÀM 6 Có người nói: Bởi vì tương tự, ng hĩa là trong tất cả phiền não không có phiền não nào không phải là t ự tánh thuộc Kiến, mà tựa như Kiến chuyển đổi thì giống như Mạn. Có người nói: Trước đã nói trong mỗi một Uẩn phân biệt về tất cả các pháp, nếu trong Uẩn này không phân biệt về Mạn thì làm sao gọi là mỗi một Uẩn phân biệt về tất cả các pháp? Vì thế cho nên trong này cũng phân biệt về Mạn. Hỏi: Các Mạn thì tất cả Mạn ấy là tự mình chấp hay sao? Đáp: Các Mạn thì tất cả Mạn ấ y là tự mình chấp, bởi vì Mạn là pháp tự mình đưa ra, tự mình dựa vào mà tranh chấp với nhau. Có lúc tự mình chấp mà không phải là Mạn, đó là các kiến chấp. Vì vậy Đức Thế Tôn nói rằng: “Tỳ kheo nên biết! Tự mình chấp có Ngã, tự mình chấp có Ngã sở.” Trong này, tự mình chấp có Ngã, là biểu hiện rõ ràng về Ngã kiến; tự mình chấp có Ngã sở, là biểu hiện rõ ràng về Ngã sở kiến. Lại nữa, tự mình chấp có Ngã, là biểu hiện rõ ràng về năm Ngã kiến; tự mình chấp có Ngã sở, la ø biểu hiện rõ ràng về mười lăm Ngã sở kiến. Lại nữa, tự mình chấp có Ngã, là biểu hiện rõ ràng về hành tướng của chấp Ngã; tự mình chấp có Ngã sở, là biểu hiện rõ ràng về hành tướng của chấp Ngã sở. Có người đưa ra cách nói này: Tự mình chấp có Ngã, là biểu hiện rõ ràng về Ngã ái; tự mình chấp có Ngã sở, là biểu hiện rõ ràng về Ngã sở ái. Có Sư khác nói: Tự mình chấp có Ngã, là biểu hiện rõ ràng về Ngã ngu; tự mình chấp có Ngã sở, là biểu hiện rõ ràng về Ngã sở ngu. Lại có người nói: Tự mình chấp có Ngã, là biểu hiện rõ ràng về Tát-ca-da kiến không có phân biệt sự việc nào khác; tự mình chấp có Ngã sở, là biểu hiện rõ ràng về Tát-ca-da kiến có phân biệt các sự việc khác. Trong tất cả phiền não không có ph iền não nào không phải là tự tánh thuộc Mạn, mà tựa như Mạn chuyển đổi thì giống như Kiến, cho nên nói kiến chấp là tự mình chấp chứ không phải là Mạn. Các Mạn thì tất cả Mạn ấy là không vắng lặng hay sao? Hỏi: Vì sao lại soạn ra phần luận này? Đáp: Trước đây chỉ phân biệt về hành tướng tương tự của Mạn và Kiến, chưa phân biệt về hành tướng t ương tự với tất cả phiền não, nay muốn phân biệt cho nên soạn ra phần luận này. SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 197 815 www.daitangkinh.org Hỏi: Các Mạn thì tất cả Mạn ấy là không vắng lặng hay sao? Đáp: Các Mạn thì tất cả Mạn ấy là không vắng lặng, bởi vì Mạn là pháp tự mình đưa ra, tự mình dựa vào mà tranh chấp với nhau. Có lúc không vắng lặng mà không phải là Mạn, đó là các phiền não khác hiện rõ ở trước mắt. Vì vậy Đức Thế Tôn nói rằng: “Tỳ kheo nên biết! Động là bị ma ràng buộc , không động thì thoát khỏi hành ác.” Trong này, các phiền não khác, đó là Kiến-Nghi-Vô minh-Tham- Sân-Triền-Cấu; hiện rõ ở trước mắt, là biểu hiện về tướng không vắng lặng. Hỏi: Vì sao phiền não hiện ta ïi có tướng không vắng lặng chứ không phải là quá khứ-vị lai? Đáp: Phiền não hiện tại làm chướng ngại Thánh đạo và gia hạnh của Thánh đạo ở trong thân của mình; phiền não quá khứ và vị lai thì không như vậy. Lại nữa, phiền não hiện tại có thể chọn lấy quả, mang lại quả ở trong thân của mình; phiền não quá khứ và vị lai thì không như vậy. Lại nữa, phiền não hiện tại có thể giữ lấy quả Đẳng lưu, quả Dị thục ở trong thân của mình; phi ền não quá khứ và vị lai thì không như vậy. Lại nữa, phiền não hiện tại có thể làm cho thân của mình trở thành đáng chê trách, đáng ghét bỏ, đáng xa lìa; phiền não quá khứ và vị lai thì không như vậy. Lại nữa, phiền não hiện tại đốt cháy thân của mình, tổn hoại thân của mình, bức não thân của mình; phiền não quá khứ và vị lai thì không như vậy. Lại nữa, phiền não hiện tại làm hại mình, làm hại người, hoặc là làm hại cả hai; phiền não quá khứ và vị lai thì không như vậy. Lại nữa, phiền não hiện tại là tánh không vắng lặng, có tác dụng không vắng lặng, vì thế cho nên nói đến; phiền não quá khứ và vị lai là tánh không vắng lặng, mà không có tác dụng không vắng lặng, cho nên không nói đến. Động là bị ma ràng buộc, không động thì thoát khỏi hành ác, trong này câu đầu là hiển bày về không va éng lặng thì bị ma phiền não ràng buộc, câu sau là hiển bày về vắng lặng thì thoát khỏi tánh của Thiên ma, bởi vì xấu xa hiểm ác thì chỉ có Thiên ma. Có Sư khác nói: Trong này cả ha i câu đều biểu hi ện rõ ràng về tánh của ma phiền não, bởi vì các phiền não làm hại pháp thiện, cho 816 BỘ TỲ ĐÀM 6 nên gọi là ma; bởi vì khởi lên nghiệp ác cho nên lại gọi là ác. Nếu các hữu tình không vắng lặng thì bị phi ền não ràng buộc, nếu có thể vắng lặng tu tập đối trị thì sẽ được thoát khỏi sự ràng buộc của phiền não. Hỏi: Các nghiệp thì nghiệp ấy là không luật nghi chăng? Đáp: Nên làm thành bốn câu phân biệt: 1. Có lúc là nghiệp mà không phải là không luật nghi, đó là luật nghi của thân-ngữ. 2. Có lúc là không luật nghi mà không phải là nghiệp, đó là căn không luật nghi. 3. Có lúc là nghiệp mà cũng là không luật nghi, đó là thân-ngữ không luật nghi. 4. Có lúc không phải là nghiệp mà cũng không phải là không luật nghi, đó là căn luật nghi. Hỏi: Các nghiệp thì nghiệp ấy là luật nghi chăng? Đáp: Nên làm thành bốn câu phân biệt: 1. Có lúc là nghiệp mà không phải là luật nghi, đó là thân-ngữ không luật nghi. 2. Có lúc là luật nghi mà không phải là nghiệp, đó là căn luật nghi. nghi. 3. Có lúc là nghiệp mà cũng là luật nghi, đó là thân-ngữ luật 4. Có lúc không phải là nghiệp mà cũng không phải là luật nghi, đó là căn không luật nghi. Hỏi: Trong này, căn luật nghi và căn không luật nghi lấy gì làm tự tánh? Đáp: Có người đưa ra cách nói này: Căn luật nghi dùng ý niệm nhận biết đúng đắn (niệm chánh tri) làm tự tánh, căn không luật nghi dùng ý niệm quên mất không nhận biết đúng đắn (vong niệm bất chánh tri) làm tự tánh. Tại sao biết như vậy? Bởi vì lấy kinh làm lượng. Như trong kinh nói: “Lúc ấy có Thiên thần nói với Tỳ kheo rằng: Này Tỳ kheo! Tỳ kheo đừng để lộ mụt nhọt lở loét. Tỳ kheo tr ả lời rằng: Tôi sẽ che lại. Thiên thần lại hỏi rằng: Mụt nhọt lở loét đã lớn thì lấy gì có thể che kín? Tỳ kheo trả lời rằng: Tôi sẽ dùng ý niệm nhận biết đúng đắn để che kín. Thiên thần liền khen rằng: Khéo th ay, khéo thay! Có thể che kín như vậy thì đúng là khéo che kín.” Vì vậy cho nên biết căn luật nghi dùng ý niệm nhận biết đúng đắn làm tự tánh, căn không luật nghi dùng ý niệm quên mất không nhận biết SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 197 817 www.daitangkinh.org đúng đắn làm tự tánh. Hỏi: Nếu như vậy thì trong kinh nói nên hiểu thế nào? Như trong kinh nói: “Đầy đủ niệm và nhận biết đúng đắn cho nên có thể đầy đủ căn luật nghi.” Lẽ nào dùng tự tánh để làm đầy đủ tự tánh hay sao? Đáp: Niệm và nhận biết đúng đắn có tánh của nhân, có tánh của quả. Tánh của nhân thì dùng tên gọi về ý niệm nhận biết đúng đắn mà nói, tánh của quả thì dùng tên gọi của luật nghi mà nói, bởi vì nhân đầy đủ làm cho quả đầy đủ trọn vẹn, vì thế cho nên không có gì sai. Có người nói: Căn luật nghi lấy không phóng túng làm tự tánh, căn không luật nghi lấy phóng túng làm tự tánh. Có người nói: Căn luật nghi lấy sáu pháp luôn luôn an trú (hằng trú) làm tự tánh, căn không luật nghi bởi vì dựa vào sáu căn sinh ra các phiền não để làm tự tánh. Có người nói: Căn luật nghi lấy căn vĩnh viễn đoạn-biết khắp- các hành diệu và căn thiện làm tự tánh, căn không luật nghi lấy căn không vĩnh viễn đoạn-không biết khắp-cá c phiền não-hành ác và căn bất thiện làm tự tánh. Như vậy thì dùng hành diệu-hành ác làm Thể của căn luật nghi và căn không luật nghi. Có người nói: Căn luật nghi dùng căn không thành tựu-không vĩnh viễn đoạn-không biết khắp và thành tựu đạo đối trị của nó làm tự tánh, căn không luật nghi dùng căn th ành tựu-không vĩnh viễn đoạn-không biết khắp và không thành tựu đạo đối tr ị của nó làm tự tánh. Như vậy căn luật nghi-căn không luật nghi đều dùng sự thành tựu-không thành tựu làm Thể. Có người nói: Căn luật nghi dùng pháp không nhiễm ô làm tự tánh, căn không luật nghi dùng pháp nhiễm ô làm tự tánh. Như vậy căn luật nghi-căn không luật nghi đều dùng năm Uẩn làm Thể tánh của mình. Xưa trong chùa Chiêu Cát Tường ở nước Ca-thấp-di-la có anh em hai vị A-la-hán, cả hai đều là Pháp s ư, thế gian gọi là Nan-địa-ca-tử. Họ nói căn luật nghi-căn không lu ật nghi, đều dùng căn luật nghi-căn không luật nghi trong Hành uẩn bất tương ưng vô phú vô ký làm tự tánh. Thành lập tự tánh này gọi là Thể, là có thật. Đây là thâu nhiếp ở trong tâm bất tương ưng hành lại có loại khác. Hỏi: Nếu căn luật nghi-căn không luật nghi, đều dùng Hành uẩn vô phú vô ký làm tự tánh, thì điều này có gì sai biệt? Đáp: Hành uẩn vô phú vô ký này có lúc tùy thuận phẩm thiện, có lúc tùy thuận phẩm phiền não. Tùy thuận phẩm thiện thì gọi là căn luật 818 BỘ TỲ ĐÀM 6 nghi, tùy thuận phẩm phiền não thì gọi là căn không luật nghi. Nếu Sự chưa đạt được thì Sự ấy không thành tựu chăng? Cho đến nói rộng ra. Ở trong năm loại Sự-mười loại Sự đã nói trước đây, trong này dựa vào Sự thuộc tự tánh mà soa ïn luận, bởi vì muốn ngăn chặn ý nói là không có tánh thành tựu-không thành tựu, để hiển bày về tánh thành tựu-không thành tựu là có thật. Hỏi: Nếu Sự chưa đạt được thì Sự ấy không thành tựu chăng? Đáp: Nếu Sự chưa đạt được thì Sự ấy không thành tựu, đó là quán Bất tịnh-Trì tức niệm, Niệm trú-ba Nghĩa quán-bảy Xứ thiện, Noãn- Đảnh-Nhẫn-Thế đệ nhất pháp, Kiến đạo-Tu đạo và đạo Vô học. Những Sự như vậy nếu chưa đạt được thì Sự ấy không thành tựu. Có Sự không thành tựu mà không phải là chưa đạt được, đó là đạt được rồi mất, đây là nói đến quán Bất tịnh…trước đây, không phải là chưa đạt được mà không thành tựu. Hỏi: Nếu Sự đã đạt được thì Sự ấy thành tựu chăng? Đáp: Nếu Sự thành tựu thì Sự ấy đã đạt được, đó chính là quán Bất tịnh... trước đây, đạt được rồi không mất. Có Sự đã đạt được mà không thành tựu, đó là đạt được rồi mất, đây là nói đến quán Bất tịnh… trước đây, đã đạt được mà mất. Trừ ra Khổ thánh đế và Pháp xứ…, cho đến nói rộng ra. Hỏi: Vì sao lại soạn ra phần luận này? Đáp: Bởi vì ngăn chặn tông ch ỉ của người khác để hiển bày về nghĩa lý của mình. Đó là hoặc có người nói: Các pháp thâu nhiếp tánh khác chứ không thâu nhiếp tự tánh, Tập đế chỉ là Ái, Đạo đế chỉ là tám chi Thánh đạo. Hoặc có người nói: Pháp xứ thâu nhiếp tất cả các pháp. Hoặc có người nói: Pháp xứ chỉ là phi sắc. Hoặc có người nói: Không có hai đời quá khứ-vị lai. Hoặc có người nói: Năm Thức chỉ là tánh vô ký. Bởi vì ngăn chặn các loại chấp trước lạ lùng như vậy, và hiển bày về nghĩa tương ưng của pháp tướng, cho nên soạn ra phần luận này. Nói “Trừ ra” là có hai ý nghĩa, một là muốn thiết lập vững vàng, hai là muốn ngăn chặn loại bỏ. Tro ng này nói “Trừ ra” là muốn ngăn chặn loại bỏ. Trừ ra Khổ thánh đế và Pháp xứ, pháp còn lại thâu nhiếp hai Giới- một Xứ-một Uẩn. Trong này Khổ tha ùnh đế, đó là tất cá các pháp hữu lậu, tức là mười lăm Giới-phần ít của ba Giới, mười Xứ-phần ít của hai SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 197 819 www.daitangkinh.org Xứ, phần ít của năm Uẩn. Pháp xứ, đó là bảy loại pháp, tức là Tưởng- Thọ-Hành uẩn, Vô biểu sắc và ba Vô vi. Pháp còn lại, đó là tâm vô lậu. Vì thế cho nên pháp này thâu nhiếp hai Gi ới đó là Ý giới-Ý thức giới, một Xứ đó là Ý xứ, một Uẩn đó là Thức uẩn. Trừ ra Tập thánh đế và Pháp xứ, nói cũng như vậy. Bởi vì Khổ- Tập có nghĩa khác nhau mà Thể không khác nhau. Trừ ra Diệt thánh đế và Pháp xứ, pháp còn lại thâu nhiếp mười bảy Giới-mười một Xứ-hai Uẩn. Trong này Diệt Thánh đế, đó là Trạch diệt-Vô vi, tức là Pháp giới và phần ít của Pháp xứ. Pháp xứ, đó là bảy loại pháp nói như trước. Pháp còn lại, đó là Sắc có đối và tất cả các tâm. Vì thế cho nên pháp này thâu nhiếp mười bảy Giới-mười một Xứ-hai Uẩn. Trừ ra Đạo thánh đế và Pháp xứ, nói cũng như vậy. Trong này, bởi vì sự thâu nhiếp giống nhau về số lượng, cho nên nói là cũng như vậy. Nhưng Đạo thánh đế, đó là pháp hữu vi vô lậu, gồm ba Giới tức là Ý giới-Ý thức giới-Pháp giới, hai X ứ tức là Ý xứ-Pháp xứ, phần ít của năm Uẩn. Pháp xứ, nói như trước. Pháp còn lại, đó là Sắc có đối và tâm hữu lậu. Vì thế cho nên pháp này th âu nhiếp mười bảy Giới-mười một Xứ-hai Uẩn. Trừ ra pháp có Sắc và Pháp xứ, pháp còn lại thâu nhiếp bảy Giới- một Xứ-một Uẩn. Trong này pháp có Sắc, đó là bốn đại chủng và sở tạo, tức là mười Giới-phần ít của một Giới, mười Xứ-phần ít của một Xứ, một Uẩn. Pháp xứ, nói như trước. Pháp còn lại, đó là tất cả các tâm. Vì thế cho nên pháp này thâu nhiếp bảy tâm Giới-một Xứ-một Uẩn. Trừ ra pháp không có Sắc và Ph áp xứ, pháp còn lại thâu nhiếp mười Giới-mười Xứ-một Uẩn. Trong này pháp không có Sắc, đó là tâm- tâm sở pháp, bất tương ưng hành và vô vi, tức là bảy tâm Giới-phần ít của một Giới, một Xứ-phần ít của một Xứ, bốn Uẩn trừ ra Sắc uẩn. Pháp xứ, nói như trước. Pháp còn lại, đó là tất cả Sắc có đối. Vì thế cho nên pháp này thâu nhiếp mười Giới-mười Xứ-một Uẩn. Trừ ra pháp có thấy và Pháp xứ, pháp còn lại thâu nhiếp mười sáu Giới-mười Xứ-hai Uẩn. Trong này pháp có thấy, đó là hiện hành của Nhãn, tức là một Giới-một Xứ va ø phần ít của một Uẩn. Pháp xứ, nói như trước. Pháp còn lại, đó là Sắc có đối-không có thấy. Vì thế cho nên pháp này thâu nhiếp mười sáu Giới tr ừ ra Sắc giới và Pháp giới, mười Xứ trừ ra Sắc xứ và Pháp xứ, do hai Uẩn thâu nhiếp là Sắc uẩn và Thức uẩn. Trừ ra pháp không có thấy và Pháp xứ, pháp còn lại thâu nhiếp 820 BỘ TỲ ĐÀM 6 một Giới-một Xứ-một Uẩn. Trong này pháp không có thấy, đó là trừ ra hiện hành của Nhãn, còn lại tất cả các pháp, tức là mười bảy Giới-mười một Xứ-bốn Uẩn và phần ít của một Uẩn. Pháp xứ, nói như trước. Pháp còn lại, đó là hiện hành của Nhãn. Vì thế cho nên pháp này thâu nhiếp một Giới-một Xứ-một Uẩn. Trừ ra pháp có đối và Pháp xứ, pháp còn lại thâu nhiếp bảy Giới- một Xứ-một Uẩn. Trong này pháp có đối , đó là trừ ra Vô biểu, còn lại tất cả các Sắc, tức là mười Giới-mười Xứ và phần ít của một Uẩn. Pháp xứ, nói như trước. Pháp còn lại, đó là tất cả các tâm. Vì thế cho nên pháp này thâu nhiếp bảy tâm Giới-một Xứ-một Uẩn. Trừ ra pháp không có đối và Pháp xứ, pháp còn lại thâu nhiếp mười Giới-mười Xứ-một Uẩn. Trong này pháp không có đối, đó là trừ ra Sắc có đối, còn lại tất cả các pháp, tức là tám Giới-hai Xứ-bốn Uẩn và phần ít của một Uẩn. Pháp xứ, nói như trước. Pháp còn lại, đó là tất cả Sắc có đối. Vì thế cho nên pháp này thâu nhiếp mười Giới-mười Xứ- một Uẩn. Trừ ra pháp hữu lậu và Pháp xứ, pháp còn lại thâu nhiếp hai Giới- một Xứ-một Uẩn. Trong này pháp hữu lậu, đó là Khổ-Tập đế, tức là mười lăm Giới-phần ít của ba Giới, mười Xứ-phần ít của hai Xứ và phần ít của năm Uẩn. Pháp xứ, nói như trước. Pháp còn lại, đó là tâm vô lậu. Vì thế cho nên pháp này thâu nhiếp hai Giới-một Xứ-một Uẩn. Trừ ra pháp vô lậu và Pháp xứ, pháp còn lại thâu nhiếp mười bảy Giới-mười một Xứ-hai Uẩn. Trong này pháp vô lậu, đó là Diệt-Đạo đế và hai Vô vi, tức là ba Giới-hai Xứ-phần ít của năm Uẩn. Pháp xứ, nói như trước. Pháp còn lại, đó là Sắc có đối và tâm hữu lậu. Vì thế cho nên pháp này thâu nhiếp mười bảy Giới-mười một Xứ-hai Uẩn. Trừ ra pháp hữu vi và Pháp xứ, đây là trừ ra tất cả các pháp mà hỏi về pháp khác, là vô cớ lua än bàn trống không. Trong này pháp hữu vi, đó là Khổ-Tập-Đạo đế, tức là mười bảy Giới-phần ít của một Giới, mười một Xứ-phần ít của một Xứ và năm Uẩn. Pháp xứ, nói như trước. Trừ pháp này ra lại không có pháp nào khác có thể thâu nhiếp, vì thế cho nên ở đây gọi là vô cớ luận bàn trống không. Trừ ra pháp vô vi và Pháp xứ, pha ùp còn lại thâu nhiếp mười bảy Giới-mười một Xứ-hai Uẩn. Trong này pháp vô vi, đó là Hư không Trạch diệt và Phi trạch diệt, tức là một Giới và phần ít của một Xứ. Pháp xứ, nói như trước. Pháp còn lại, đó là Sắc có đối và tất cả các tâm. Vì thế cho nên pháp này thâu nhiếp mười bảy Giới-mười một Xứ-hai Uẩn. SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 197 821 www.daitangkinh.org Trừ ra pháp quá khứ và Pháp xứ, pháp còn lại thâu nhiếp mười bảy Giới-mười một Xứ-hai Uẩn. Tr ong này pháp quá khứ, đó là các pháp đã sinh-đã diệt, tức là mười tám Giới-mười hai Xứ-phần ít của năm Uẩn. Pháp xứ, nói như trước. Pháp còn lại, đó là Sắc có đối và tâm thuộc vị lai-hiện tại. Vì thế cho nên pháp này thâu nhiếp mười bảy Giới-mười một Xứ-hai Uẩn. Trừ ra pháp vị lai-pháp hiện tại và Pháp xứ, nói cũng như vậy; bởi vì thời gian khác biệt mà chủng loại không khác nhau. Trừ ra pháp thiện và Pháp xứ, pha ùp còn lại thâu nhiếp mười bảy Giới-mười một Xứ-hai Uẩn. Trong này pháp thiện, đó là pháp có thể đạt được quả yêu thích và tự tánh an ổn, tức là mười Giới-bốn Xứ-phần ít của năm Uẩn. Pháp xứ, nói như trước. Pháp còn lại, đó là Sắc có đối và tâm thuộc bất thiện-vô ký. Vì thế cho nên pháp này thâu nhiếp mười bảy Giới-mười một Xứ-hai Uẩn. Trừ ra pháp bất thiện và Pháp xứ, nói cũng như vậy; bởi vì chủng loại khác biệt mà thâu nhiếp không khác nhau. Trừ ra pháp vô ký và Pháp xứ, pháp còn lại thâu nhiếp chín Giới- ba Xứ-hai Uẩn. Trong này pháp vô ký, đó là pháp không đạt được quả yêu thích-không yêu thích và không phải la ø tự tánh an ổn, tức là tám Giới-phần ít của mười Giới, tám Xứ-phần ít của bốn Xứ và phần ít của năm Uẩn. Pháp xứ, nói như trước. Pháp còn lại, đó là Sắc có đối và tâm thuộc thiện-bất thiện. Vì thế cho nên pháp này thâu nhiếp chín Giới-ba Xứ-hai Uẩn. Trừ ra pháp hệ thuộc cõi Dục và Pháp xứ, pháp còn lại thâu nhiếp mười ba Giới-chín Xứ-hai Uẩn. Trong này pháp hệ thuộc cõi Dục, đó là do Ái của cõi Dục mà tùy tăng, tức là bốn Giới-phần ít của mười bốn Giới, hai Xứ-phần ít của mười Xứ và phần ít của năm Uẩn. Pháp xứ, nói như trước. Pháp còn lại , đó là Sắc có đối hệ t huộc cõi Sắc và tâm hệ thuộc cõi Sắc-Vô sắc cùng với không hệ thuộc. Vì thế cho nên pháp này thâu nhiếp mười ba Giới-chín Xứ-hai Uẩn. Trừ ra pháp hệ thuộc cõi Sắc và Pháp xứ, pháp còn lại thâu nhiếp mười bảy Giới-mười một Xứ-hai Uẩn. Trong này pháp hệ thuộc cõi Sắc, đó là do Ái của cõi Sắc mà tùy tăng, tức là mười bốn Giới-mười Xứ và phần ít của năm Uẩn. Pháp xứ, nói như trước. Pháp còn lại, đó là Sắc có đối hệ thuộc cõi Dục và tâm hệ th uộc cõi Dục-Vô sắc cùng với không hệ thuộc. Vì thế cho nên pháp này thâu nhiếp mười bảy Giới-mười một Xứ-hai Uẩn. Trừ ra pháp hệ thuộc cõi Vô sắc-pháp Học-pháp Vô học và Pháp 822 BỘ TỲ ĐÀM 6 xứ, nói cũng như vậy; đây là bởi vì sự thâu nhiếp giống nhau về số lượng. Trừ ra pháp Phi học phi vô học và Pháp xứ, pháp còn lại thâu nhiếp hai Giới-một Xứ-một Uẩn. Trong này pháp Phi học phi vô học, đó là tất cả pháp hữu lậu và vô vi, tức là mười lăm Giới-phần ít của ba Giới, mười Xứ-phần ít của hai Xứ và phần ít của năm Uẩn. Pháp xứ, nói như trước. Pháp còn lại, đó là tâm vô lậu. Vì thế cho nên pháp này thâu nhiếp hai Giới-một Xứ-một Uẩn. Trừ ra pháp do Kiến mà đoạn va ø Pháp xứ, pháp còn lại thâu nhiếp mười bảy Giới-mười một Xứ- hai Uẩn. Trong này pháp do Kiến mà đoạn, đó là do Nhẫn mà đối trị, tức là ba Giới-hai Xứ và phần ít của bốn Uẩn. Pháp xứ, nói như trước. Pháp còn lại, đó là tất cả Sắc có đối và tâm do Tu mà đoạn cùng với không đoạn. Vì thế cho nên pháp này thâu nhiếp mười bảy Giới-mười một Xứ-hai Uẩn. Trừ ra pháp do Tu mà đoạn và Pháp xứ, pháp còn lại thâu nhiếp hai Giới-một Xứ-một Uẩn. Trong này pháp do Tu mà đoạn, đó là do Trí mà đối trị, tức là mười lăm Giới- phần ít của ba Giới, mười Xứ-phần ít của hai Xứ và phần ít của năm Uẩn. Pháp xứ, nói như trước. Pháp còn lại, đó là tâm do Kiến mà đoạn và không đoạn. Vì thế cho nên pháp này thâu nhiếp hai Giới-một Xứ-một Uẩn. Trừ ra pháp không đoạn và Pháp xứ, pháp còn lại thâu nhiếp mười bảy Giới-mười một Xứ-hai Uẩn. Trong này pháp không đoạn, đó là tất cả pháp vô lậu, tức là ba Giới-hai Xứ và phần ít của năm Uẩn. Pháp xứ, nói như trước. Pháp còn lại, đó là tất cả Sắc có đối và tâm hữu lậu. Vì thế cho nên pháp này thâu nhiếp mười bảy Giới-mười một Xứ-hai Uẩn. Trừ ra pháp đã sinh và pháp nhất định không sinh, pháp còn lại thâu nhiếp mười tám Giới-mười ha i Xứ-năm Uẩn. Trong này pháp đã sinh, đó là pháp quá khứ-hiện tại, tức là mười tám Giới-mười hai Xứ- phần ít của năm Uẩn; pháp nhất định không sinh, đó là pháp quá khứ- hiện tại, và pháp nhất định không sinh t huộc vị lai, cùng với vô vi bởi vì đã sinh cho nên đạt được, bởi vì không sinh cho nên không có sinh. Quyết định không sinh thì pháp này cũng là mười tám Giới-mười hai Xứ-phần ít của năm Uẩn. Pháp còn lại, đó là pháp đang sinh và có thể sinh. Vì thế cho nên pháp này cũng thâu nhiếp mười tám Giới-mười hai Xứ-năm Uẩn. Trừ ra pháp không phải là đã sinh và pháp nhất định không sinh, đây là trừ ra tất cả các pháp mà hỏi về pháp khác, là vô cớ luận bàn SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 197 823 www.daitangkinh.org trống không. Trong này pháp không phải la ø đã sinh, đó là pháp vị lai và vô vi, tức là mười tám Giới-mười hai Xứ-phần ít của năm Uẩn. Pháp nhất định không sinh, nói như trước. Trừ pháp này ra lại không có pháp nào khác có thể thâu nhiếp, vì thế cho nên nói là vô cớ luận bàn trống không. Trừ ra pháp có Sắc và pháp nhất định không sinh, pháp còn lại thâu nhiếp tám Giới-hai Xứ-bốn Uẩn. Trong này pháp có Sắc và pháp nhất định không sinh, nói như trước. Pháp còn lại, đó là pháp đang sinh- có thể sinh, các tâm-tâm sở và tâm bất tương ưng hành. Vì thế cho nên pháp này thâu nhiếp tám Giới-hai Xứ-bốn Uẩn. Trừ ra pháp không có Sắc và pháp nhất định không sinh, pháp còn lại thâu nhiếp mười một Giới-mười một Xứ-một Uẩn. Trong này pháp không có Sắc và pháp nhất định không sinh, nói như trước. Pháp còn lại, đó là các pháp có Sắc đang sinh-c ó thể sinh. Vì thế cho nên pháp này thâu nhiếp mười một Giới-mười một Xứ-một Uẩn. Trừ ra pháp có thấy và pháp nhất định không sinh, pháp còn lại thâu nhiếp mười bảy Giới-mười một Xứ-năm Uẩn. Trong này pháp có thấy và pháp nhất định không sinh, nói như trước. Pháp còn lại, đó là các pháp không có thấy đang sinh-có thể sinh. Vì thế cho nên pháp này thâu nhiếp mười bảy Giới-mười một Xứ-năm Uẩn. Trừ ra pháp không có thấy và pháp nhất định không sinh, pháp còn lại thâu nhiếp một Giới-một Xứ-một Uẩn. Trong này pháp không có thấy và pháp nhất định không sinh, nói như trước. Pháp còn lại, đó là các Sắc có thấy đang sinh-có thể sinh. Vì thế cho nên pháp này thâu nhiếp một Giới-một Xứ-một Uẩn. Trừ ra pháp có đối và pháp nhất định không sinh, pháp còn lại thâu nhiếp tám Giới-hai Xứ-năm Ua ån. Trong này pháp có đối và pháp nhất định không sinh, nói như trước. Pháp còn lại, đó là các pháp không có đối đang sinh-có thể sinh. Vì th ế cho nên pháp này thâu nhiếp tám Giới-hai Xứ-bốn Uẩn. Trừ ra pháp không có đối và pháp nhất định không sinh, pháp còn lại thâu nhiếp mười Giới-mười Xứ-một Uẩn. Trong này pháp không có đối và pháp nhất định không sinh, nói như trước. Pháp còn lại, đó là các Sắc có đối đang sinh-có thể sinh. Vì thế cho nên pháp này thâu nhiếp mười Giới-mười Xứ-một Uẩn. Trừ ra pháp hữu lậu và pháp nha át định không sinh, pháp còn lại thâu nhiếp ba Giới-hai Xứ-năm Ua ån. Trong này pháp hữu lậu và pháp nhất định không sinh, nói như trước. Pháp còn lại, đó là các pháp vô lậu 824 BỘ TỲ ĐÀM 6 đang sinh-có thể sinh. Vì thế cho nên pháp này thâu nhiếp ba Giới-hai Xứ-năm Uẩn. Trừ ra pháp vô lậu và pháp nha át định không sinh, pháp còn lại thâu nhiếp mười tám Giới-mười ha i Xứ-năm Uẩn. Trong này pháp vô lậu và pháp nhất định không sinh, nói như trước. Pháp còn lại, đó là các pháp hữu lậu đang sinh-có thể sinh. Vì thế cho nên pháp này thâu nhiếp mười tám Giới-mười hai Xứ-năm Uẩn. Trừ ra pháp hữu vi và pháp nhất định không sinh, đây là trừ ra tất cả các pháp mà hỏi về pháp khác, là vô cớ luận bàn trống không. Trong này pháp hữu vi và pháp nhất định không sinh, nói như trước. Trừ pháp này ra lại không có pháp nào khác có thể thâu nhiếp, vì thế cho nên nói là vô cớ luận bàn trống không. Trừ ra pháp vô vi và pháp nhất định không sinh, pháp còn lại thâu nhiếp mười tám Giới-mười hai Xứ- năm Uẩn. Trong này pháp vô vi và pháp nhất định không sinh, nói như trước. Pháp còn lại, đó là các pháp hữu vi đang sinh-có thể sinh. Vì thế cho nên pháp này thâu nhiếp mười tám Giới-mười hai Xứ-năm Uẩn. Trừ ra pháp quá khứ-pháp hiện tại và pháp nhất định không sinh, nói cũng như vậy. Trong này, pháp còn lại đều nói là các pháp hữu vi đang sinh-có thể sinh, vì thế cho nên pháp này đều thâu nhiếp mười tám Giới-mười hai Xứ-năm Uẩn. Trừ ra pháp vị lai và pháp nhất định không sinh, đây là trừ ra tất cả các pháp mà hỏi về pháp khác, là vô cớ luận bàn trống không. Trong này pháp vị lai và pháp nhất định không sinh, thâu nhiếp đầy đủ tất cả pháp hữu vi-vô vi. Trừ pháp này ra la ïi không có pháp nào khác có thể thâu nhiếp, vì thế cho nên nói là vô cớ luận bàn trống không. Trừ ra pháp thiện và pháp nhất định không sinh, pháp còn lại thâu nhiếp mười tám Giới-mười hai Xứ-na êm Uẩn. Trong này pháp thiện và pháp nhất định không sinh, nói như trước. Pháp còn lại, đó là các pháp bất thiện-vô ký đang sinh-có thể sinh. Vì thế cho nên pháp này thâu nhiếp mười tám Giới-mười hai Xứ-năm Uẩn. Trừ ra pháp bất thiện và pháp nhất định không sinh, nói cũng như vậy; bởi vì đối với pháp còn lại đã thâu nhiếp giống nhau. Trừ ra pháp vô ký và pháp nhất định không sinh, pháp còn lại thâu nhiếp mười Giới-bốn Xứ-năm Uẩn. Trong này pháp vô ký và pháp nhất định không sinh, nói như trước. Pháp còn lại, đó là pháp thiện-bất thiện đang sinh-có thể sinh. Vì thế cho nên pháp này thâu nhiếp mười Giới- bốn Xứ-năm Uẩn. SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 197 825 www.daitangkinh.org Trừ ra pháp hệ thuộc cõi Dục và pháp nhất định không sinh, pháp còn lại thâu nhiếp mười bốn Giới- mười Xứ-năm Uẩn. Trong này pháp hệ thuộc cõi Dục và pháp nhất định không sinh, nói như trước. Pháp còn lại, đó là pháp hệ thuộc cõi Sắc-V ô sắc và pháp không hệ thuộc đang sinh-có thể sinh. Vì thế cho nên pháp này thâu nhiếp mười bốn Giới- mười Xứ-năm Uẩn. Trừ ra pháp hệ thuộc cõi Sắc và pháp nhất định không sinh, pháp còn lại thâu nhiếp mười tám Giớ i-mười hai Xứ-năm Uẩn. Trong này pháp hệ thuộc cõi Sắc và pháp nhất định không sinh, nói như trước. Pháp còn lại, đó là các pháp hệ thuộc cõi Dục-Vô sắc và pháp không hệ thuộc đang sinh-có thể sinh. Vì thế cho nên pháp này thâu nhiếp mười tám Giới-mười hai Xứ-năm Uẩn. Trừ ra pháp hệ thuộc cõi Vô sắc -pháp Học-pháp Vô học và nhất định không sinh, nói cũng như vậy; bởi vì đối với pháp còn lại thâu nhiếp giống nhau về số lượng. Trừ ra pháp Phi học phi vô học và pháp nhất định không sinh, pháp còn lại thâu nhiếp ba Giới -hai Xứ-năm Uẩn. Trong này pháp Phi học phi vô học và pháp nhất đị nh không sinh, nói như trước. Pháp còn lại, đó là pháp Học-Vô học đang sinh-có thể sinh. Vì thế cho nên pháp này thâu nhiếp ba Giới-hai Xứ-năm Uẩn. Trừ ra pháp do Kiến mà đoạn và pháp nhất định không sinh, pháp còn lại thâu nhiếp mười tám Giới -mười hai Xứ-năm Uẩn. Trong này pháp do Kiến mà đoạn và pháp nha át định không sinh, nói như trước. Pháp còn lại, đó là pháp do Tu mà đoạn và không đoạn đang sinh-có thể sinh. Vì thế cho nên pháp này th âu nhiếp mười tám Giới-mười hai Xứ-năm Uẩn. Trừ ra pháp do Tu mà đoạn và pháp nhất định không sinh, pháp còn lại thâu nhiếp ba Giới-hai Xứ-năm Uẩn. Trong này pháp do Tu mà đoạn và pháp nhất định không sinh, nói như trước. Pháp còn lại, đó là pháp do Kiến mà đoạn và không đoạn đang sinh-có thể sinh. Vì thế cho nên pháp này thâu nhiếp ba Giới-hai Xứ-năm Uẩn. Trừ ra pháp không đoạn và Pháp xứ, pháp còn lại thâu nhiếp mười bảy Giới-mười một Xứ-hai Uẩn. Trong này pháp không đoạn, đó là tất cả pháp vô lậu, tức là ba Giới-hai Xứ và phần ít của năm Uẩn. Pháp xứ, nói như trước. Pháp còn lại, đó là tất cả Sắc có đối và tâm hữu lậu. Vì thế cho nên pháp này thâu nhiếp mười bảy Giới-mười một Xứ-hai Uẩn. Trừ ra pháp không có đối và pháp nhất định không sinh, pháp còn 826 BỘ TỲ ĐÀM 6 lại thâu nhiếp mười Giới-mười Xứ-một Uẩn. Trong này pháp không có đối và pháp nhất định không sinh, nói như trước. Pháp còn lại, đó là các Sắc có đối đang sinh-có thể sinh. Vì thế cho nên pháp này thâu nhiếp mười Giới-mười Xứ-một Uẩn. Trừ ra pháp hữu lậu và pháp nha át định không sinh, pháp còn lại thâu nhiếp ba Giới-hai Xứ-năm Ua ån. Trong này pháp hữu lậu và pháp nhất định không sinh, nói như trước. Pháp còn lại, đó là các pháp vô lậu đang sinh-có thể sinh. Vì thế cho nên pháp này thâu nhiếp ba Giới-hai Xứ-năm Uẩn. Trừ ra pháp không đoạn và pháp nhất định không sinh, pháp còn lại thâu nhiếp mười tám Giới-mười hai Xứ-năm Uẩn. Trong này pháp không đoạn và pháp nhất định không sinh, nói như trước. Pháp còn lại, đó là pháp do Kiến-Tu mà đoạn đang sinh-có thể sinh. Vì thế cho nên pháp này thâu nhiếp mười tám Giới-mười hai Xứ-năm Uẩn. Hỏi: Có thể có một Giới-một X ứ-một Uẩn thâu nhiếp tất cả các pháp chăng? Đáp: Có, một Giới đó là Pháp Giới, một Xứ đó là Ý xứ, một Uẩn đó là Sắc uẩn, như vậy thì thâu nhi ếp hết tất cả các pháp. Nguyên cớ thế nào? Bởi vì tất cả các pháp không ra ngoài năm Sự, đó là Sắc-Tâm- Tâm sở pháp-Bất tương ưng hành và Vô vi, Sắc uẩn thâu nhiếp Sắc, Ý xứ thâu nhiếp Tâm, Pháp xứ thâu nhiếp những loại còn lại, vì thế cho nên thâu nhiếp tất cả các pháp. Lại nữa, tất cả các pháp không ra ngoài mười tám Giới, trong đó Sắc uẩn thâu nhiếp mười Sắc giới, Ý xứ thâu nhiếp bảy Tâm giới, Pháp giới thâu nhiếp Pháp giới, cho nên thâu nhiếp tất cả các pháp. Lại nữa, tất cả các pháp đều quy vào trong Uẩn-Giới-Xứ, ba loại này lần lượt chuyển đổi thâu nhiếp lẫn nhau, đó là Sắc uẩn thâu nhiếp mười Sắc giới, mười Sắc xứ, Pháp gi ới và phần ít của Pháp xứ; Ý xứ thâu nhiếp bảy Tâm giới và Thức uẩn; Pháp giới thâu nhiếp Pháp xứ, Thọ-Tưởng-Hành uẩn và phần ít của Sa éc uẩn. Vì thế cho nên ba loại này thâu nhiếp tất cả các pháp.
Dịch giả: Thích Tịnh Hạnh
Mở nguồn Việt
Mở nguồn Việt