VI DIỆU PHÁP
Abhidhamma Piṭaka · Pāli · Việt · English · Chú giải
Đọc:
← A-tỳ-đạt-ma Tập Dị Môn Túc Luận ← Quyển 13Quyển 15 →

A-tỳ-đạt-ma Tập Dị Môn Túc Luận · Quyển 14

阿毘達磨集異門足論 · T1536

Hán văn

尊者舍利子說
三藏法師玄奘奉 詔譯
五法品第六之四
復次具壽,若諸苾芻苾芻尼等,雖無大師
或餘隨一尊重有智同梵行者為說法要,亦
不以大音聲讀誦隨曾所聞究竟法要,亦
不為他廣說開示隨曾所聞究竟法要,亦
不獨處寂靜思惟籌量觀察隨曾所聞究竟
法要所有義趣,而能善取隨一定相,於彼
定相能善思惟,又善了知復善通達。如如
善取隨一定相,於彼定相能善思惟,又善
了知復善通達,如是如是於彼法要能正了
知,若法若義由正了知若法若義便發起
欣,欣故心喜,生喜故身輕安,身輕安故
受樂,受樂故心定,心定故如實知見,如實
知見故生厭,厭故能離,離故得解脫,是名第
五解脫處。是諸苾芻苾芻尼等,安住此處,念
未住者能住正念、心未定者能住正定、漏未
盡者能盡諸漏、未得最上安隱涅槃者疾能
證得。此中大師或有隨一尊重有智同梵行
者為說法要者,問:大師云何?答:即諸如來、應、
正等覺說名大師。問:尊重有智同梵行者云
何?答:解憍陳那、馬勝、賢勝、霧氣、大名、耶舍、圓
滿、無垢、妙臂、牛主、舍利子、大採菽氏、大迦葉波、
大劫庀那、大營搆氏、大迦多衍那、大執藏、大善
見、大路、隨順、無滅、欲樂、金毘羅等,皆名尊重

有智同梵行者。問法云何?答:名身、句身、文身,
是名為法。即前大師尊重有智同梵行者,以
諸名身句身文身,為彼宣說施設建立,開顯
分別明了開示,由此故言為說法要。如如大
師或有隨一尊重有智同梵行者為說法要,
如是如是彼於法要能正了知若法若義者,
問:能正了知若法云何?答:名身、句身、文身是
名為法。彼於此法等了近了明了,通達品類
差別,獲得無二無退轉智故,名能正了知若
法。問:能正了知若義云何?答名身、句身、文身,
所顯所了、所說所遍說、所示所等示,所開名
義,彼於此義等了近了明了,通達品類差別,
獲得無二無退轉智,是名能正了知若義。
由正了知若法若義便發起欣者,最初所發
喜名為欣,彼於此欣起等起、生等生、轉現轉,
聚集出現,由斯故說便發起欣。欣故生喜者,
謂上品欣轉名為喜,彼於此喜,起等起、生等
生、轉現轉,聚集出現,由斯故說欣故生喜。心
喜故身輕安者,謂彼從欣生心喜故,於現法
中身重性斷、心重性斷,身有堪能、心有堪能,
身細滑、心細滑,身輕軟、心輕軟,身離蓋、心離
蓋,身無懶惰、心無懶惰,身無疲倦、心無疲
倦,由斯故說心喜故身輕安。身輕安故受樂
者,謂由身有堪能、心有堪能,廣說乃至身無
疲倦、心無疲惓故,身便有樂心受妙喜,由斯
故說身輕安故受樂。受樂故心定者,謂受樂
故遠離勞倦,無勞倦法平等行故,心住等住
近住一趣得三摩地,由斯故說受樂故心定。
心定故如實知見者,謂彼若時心住等住無

二無轉,爾時於苦如實知見苦、於集滅道如
實知見集滅道,由斯故說心定故如實知見。
如實知見故生厭者,謂彼若時於苦如實知
見苦、於集滅道如實知見集滅道,爾時於五
取蘊便生厭毀違逆而住,由斯故說如實知見
故生厭。厭故能離者,謂彼若時於五取蘊能
生厭毀違逆而住,爾時便於貪嗔癡三不善
根能損能薄令漸缺減。如人以水浸漬黃衣
置日光中染色速脫。如是若時於五取蘊能
生厭毀違逆而住,爾時便於三不善根能損
能薄令漸缺減,由斯故說厭故能離。離故得
解脫者,謂彼若時能損能薄能漸缺減三不
善根,爾時便於貪嗔癡等心得解脫,由斯故
說離故得解脫。是名第一者,漸次順次相續
次第數為第一。解脫處者,此中何謂解脫處
耶?答此中七法名解脫處:一者正了知法;二
者正了知義;三者欣;四者喜;五者輕安;六者
樂;七者定。是諸苾芻苾芻尼等者,謂若能引
學無間道,於此義中說為苾芻苾芻尼等。安
住此處者,謂住此處等住近住,是故說為安
住此處。念未住者能住正念者,謂能住四念
住。心未定者能住正定者,謂能住四靜慮。漏
未盡者能盡諸漏者,問:諸漏云何?答:有三漏,
謂欲漏、有漏、無明漏。彼於此三漏,能盡、等盡、
遍盡、現盡、當盡、速盡,由斯故說漏未盡者能
盡諸漏。未得無上安隱涅槃者能疾證得者,
謂諸愛盡離滅涅槃,說為無上安隱涅槃。彼
速於此能得隨得能觸能證,由斯故說未得
無上安隱涅槃者能疾證得。而能以大音聲

讀誦隨曾所聞究竟法要者,謂以廣大音聲
讀誦如先所聞究竟法要。而能為他廣說開
示隨曾所聞究竟法要者,謂彼而能為他宣
說施設建立開顯分別明了顯示如先所聞
究竟法要。而能獨處寂靜思惟籌量觀察隨
曾所聞究竟法要所有義趣者,謂能獨處寂
靜,尋思遍尋思、簡擇遍簡擇、觀察遍觀察如
先所聞究竟法要所有義趣。而能善取隨一
定相,於彼定相能善思惟,又善了知復善通
達者,謂能善取定及定相,於彼定相能善思
惟,又善了知復善通達入住出相,餘如前說。
五根者,
云何為五?一、信根;二、精進根;三、念根;四、定根;
五、慧根。此五根相,如前廣說。
五力者,云何為
五?一、信力;二、精進力;三、念力;四、定力;五、慧
力。問:信力云何?答:於如來所修植淨信根生
安住,不為沙門或婆羅門或天魔梵或餘世間
如法引奪,是名信力。問:精進力云何?答:於已
生不善法為永斷故,生欲策勵,乃至廣說四
種正斷,是名精進力。問:念力云何?答:於內身
住循身觀,乃至廣說四種念住,是名念力。問:
定力云何?答:離欲惡不善法,乃至廣說四種
靜慮,是名定力。問:慧力云何?答:如實了知,此
是苦聖諦、此是苦集聖諦、此是苦滅聖諦、此
是趣苦滅行聖諦,是名慧力。問:何故名力?答:
因如是力、依如是力、住如是力,一切結縛隨
眠隨煩惱纏皆可斷截摧伏破壞,故名為力。
五不還者,云何為五?一者中般涅槃補特伽
羅;二者生般涅槃補特伽羅;三者有行般涅

槃補特伽羅;四者無行般涅槃補特伽羅;五
者上流補特伽羅。云何中般涅槃補特伽羅?
答:諸有補特伽羅,即於現法已斷五順下分
結、未斷五順上分結,造作增長起異熟業、
非生異熟業,身壞命終彼色界天中有起已,
便得如是無漏道力,進斷餘結而般涅槃,是
名中般涅槃補特伽羅。問:何故名中般涅槃
補特伽羅?答:由此補特伽羅,根極猛利結極
微薄,已超欲界未至色界,於其中間便得如
是無漏道力,進斷餘結而般涅槃故,名中般
涅槃補特伽羅。云何生般涅槃補特伽羅?答:
諸有補特伽羅,即於現法五順下分結已斷
已遍知、五順上分結未斷未遍知,造作增長
起異熟業及生異熟業,身壞命終彼生色界
天中有起已往生色界,生已不久便得如是
無漏道力,進斷餘結而般涅槃,是名生般涅
槃補特伽羅。問:何故名生般涅槃補特伽羅?
答:由此補特伽羅,纔生未久便得如是無漏
道力,進斷餘結而般涅槃故,名生般涅槃補
特伽羅。復次有說如是補特伽羅,纔生未久
便得如是無漏道力,進斷餘結此後乃至盡壽
而住,方入無餘般涅槃界故,名生般涅槃補
特伽羅。云何有行般涅槃補特伽羅?答:諸有
補特伽羅,即於現法五順下分結已斷已遍
知、五順上分結未斷未遍知,造作增長起異
熟業及生異熟業,身壞命終彼色界天中有
起已往生色界,生已後時依有行道,以有勤
行、有勤作意修不息加行道,進斷餘結而般
涅槃,是名有行般涅槃補特伽羅。問:何故名

有行般涅槃補特伽羅?答:由此補特伽羅,依
有行道、以有勤行、有勤作意修不息加行道,
進斷餘結而般涅槃故,名有行般涅槃補特
伽羅。復次有說,由此補特伽羅,依有為緣定
進斷餘結而般涅槃故,名有行般涅槃補特
伽羅。云何無行般涅槃補特伽羅?答:諸有補
特伽羅,即於現法五順下分結已斷已遍知、
五順上分結未斷未遍知,造作增長起異熟
業及生異熟業,身壞命終彼色界天中有起
已往生色界,生已後時依無行道,以無勤行、
無勤作意修止息加行道進斷餘結,入無餘
依般涅槃界,是名無行般涅槃補特伽羅。問:
何故名無行涅槃補特伽羅?答:由此補特伽
羅依無行道,以無勤行、無勤作意修止息加
行道,進斷餘結而般涅槃故,名無行般涅槃
補特伽羅。復次有說,由此補特伽羅依無為
緣定,進斷餘結入無餘依般涅槃界故,名無
行般涅槃補特伽羅。云何上流補特伽羅?答:
諸有補特伽羅,即於現法五順下分結已斷
已遍知、五順上分結未斷未遍知,乃至現入
雜修世俗第四靜慮,將命終時退三靜慮住
初靜慮,臨命終時造作增長起異熟業及生
異熟業,身壞命終彼色界天中有起已往生
色界梵眾天中。生已後時現入世俗第二靜
慮,臨命終時造作增長起異熟業及生異熟
業,身壞命終彼色界天中有起已往生色界
光音天中。生已後時現入世俗第三靜慮,臨
命終時造作增長起異熟業及生異熟業,身
壞命終彼色界天中有起已往生色界遍淨

天中。生已後時現入世俗第四靜慮,臨命終
時造作增長起異熟業及生異熟業,身壞命
終彼色界天中有起已往生色界廣果天中。
生已後時現入下品雜修世俗第四靜慮,臨
命終時造作增長起異熟業及生異熟業,身
壞命終彼色界天中有起已往生色界無煩
天中。生已後時現入中品雜修世俗第四靜
慮,臨命終時造作增長起異熟業及生異熟
業,身壞命終彼色界天中有起已往生色界
無熱天中。生已後時現入上品雜修世俗第
四靜慮,臨命終時造作增長起異熟業及生
異熟業,身壞命終彼色界天中有起已往生
色界善現天中。生已後時入上勝品雜修世
俗第四靜慮,臨命終時造作增長起異熟業
及生異熟業,身壞命終彼色界天中有起已
往生色界善見天中。生已後時入上上品最
極圓滿雜修世俗第四靜慮,臨命終時造作
增長起異熟業及生異熟業,身壞命終彼色
界天中有起已往生色界色究竟天。生已後
時方得如是無漏道力,進斷餘結入無餘依
般涅槃界,是名上流補特伽羅。問:何故名上
流補特伽羅?答:有二種流,謂生死業及彼煩
惱。彼於此二俱未斷未遍知,彼由此因及此
緣故,上行隨行、上流隨流故,名上流補特伽
羅。復次有作是言,說由此不還補特伽羅,
漸次勝進,於後後定能領隨領、能受隨受,永
無退轉,故名上流。復次上流略有二種。何謂
為二?一者行色界?二者行無色界。行色界者?
以色究竟天為最極處。行無色界者?以非想

非非想處天為最極處。
五淨居天者,云何為五?答:一、無煩天;二、無熱
天;三、善現天;四、善見天;五、色究竟天。云何無
煩天?答:謂此與彼諸無煩天,是一類、為伴侶、
共眾同分,依得、事得、處得皆同。又若生在無
煩天中,所有無覆無記色受想行識蘊,是名
無煩天。復次以無煩天,於苦見苦、於集見集、
於滅見滅、於道見道故,名無煩天。復次以無
煩天,身無煩擾、心無煩擾,由彼身心無煩擾
故,領受寂靜遍淨無漏微妙諸受故,名無煩
天。復次此是彼名異語增語諸想等想施設
言說,謂無煩天故,名無煩天。云何無熱天?答:
謂此與彼諸無熱天,同一類、為伴侶、共眾同
分,依得、事得、處得皆同。又若生在無熱天中,
所有無覆無記色受想行識蘊,是名無熱天。
復次以無熱天,於苦見苦、於集見集、於滅見
滅、於道見道故,名無熱天。復次以無熱天,身
無熱惱、心無熱惱,由彼身心無熱惱故,領受
寂靜遍淨無漏微妙諸受故,名無熱天。復次
此是彼名異語增語諸想等想施設言說,謂
無熱天故,名無熱天。云何善現天?答:謂此與
彼諸善現天,同一類、為伴侶、共眾同分、依得、
事得、處得皆同。又彼生在善現天中,所有無
覆無記色受想行識蘊,是名善現天。復次以
善現天,於苦見苦、於集見集、於滅見滅、於道
見道故,名善現天。復次以善現天形色微妙,
眾所樂觀清淨端嚴,超過無煩無熱天眾故,
名善現天。復次此是彼名異語增語諸想等
想施設言說,謂善現天故,名善現天。云何善

見天?答:謂此與彼諸善見天,同一類、為伴侶、
共眾同分,依得、事得、處得皆同。又彼生在善
見天中,所有無覆無記色受想行識蘊,是名
善見天。復次以善見天,於苦見苦、於集見集、
於滅見滅、於道見道故,名善見天。復次以善
見天形色轉微妙,眾所轉樂觀轉清淨端嚴,
超過無煩無熱善現天眾故,名善見天。復次
此是彼名異語增語諸想等想施設言說,謂
善見天故,名善見天。云何色界究竟天?答:
謂此與彼諸色究竟天,同一類、為伴侶、共眾
同分,依得、事得、處得皆同。又復生在色究竟
天中,所有無覆無記色受想行識蘊,是名色
究竟天。復次以色究竟天,於苦見苦,於集見
集,於滅見滅,於道見道故,名色究竟天。復次
以色究竟天所得自體,於生色趣最勝第一
故,名色究竟天。復次此天亦名礙究竟天。礙
謂礙身,此是礙身最究竟處故,名礙究竟天。
復次此是彼名異語增語諸想等想施設言
說,謂色究竟天,或謂礙究竟天故,名色究竟
天、或名礙究竟天。
五出離界者,云何為五?具壽當知,諸有多聞
聖弟子眾具猛利見,若念諸欲,便於諸欲心
不趣入、不信樂、不安住、無勝解、卷縮不伸、棄
捨而住,厭惡毀呰制伏違逆,如燒筋羽卷縮
不伸。如是多聞聖弟子眾具猛利見,若念諸
欲便於諸欲心不趣入,乃至廣說。若念出離,
便於出離深心趣入、信樂安住、有勝解、不卷
縮、恒舒泰,心不厭毀任運現行,其心安樂易
善修習,於諸欲緣所起諸漏損害熱惱皆得

解脫。從彼起已離繫解脫,不受彼因彼緣諸
受,如是名為於欲出離。於恚無恚,於害無害,
於色無色,應知亦爾。具壽當知,諸有多聞聖
弟子眾具猛利見,若念有身,便於有身心不趣
入、不信樂、不安住、無勝解、卷縮不伸、棄捨而
住,厭惡毀呰制伏違逆,如燒筋羽卷縮不伸。
如是多聞聖弟子眾具猛利見,若念有身,便
於有身心不趣入,乃至廣說。若念有身滅涅
槃,便於有身滅涅槃深心趣入、信樂安住、有
勝解、不卷縮、恒舒泰,心不厭毀任運現行,其
心安樂易善修習,於有身緣所起諸漏損害
熱惱皆得解脫。從彼起已離繫解脫,不受彼
因彼緣諸受,如是名為有身出離。此中諸有
者,謂如是名、如是姓、如是類、如是食、如是受
苦樂、如是長壽、如是壽邊際,故名諸有。多聞
者,謂聞多正法。多正法者,謂契經、應誦、記
別、諷頌、自說、因緣、譬喻、本事、本生、方廣、希
法、論議。聞此諸法,故名多聞。聖弟子者,聖
謂諸佛,佛之弟子名聖弟子。諸能歸依佛法
僧者,一切皆得聖弟子名,故名聖弟子。具猛
利見者,云何猛利?答:上品圓滿故名猛利。云
何為見?答:若依出離遠離所生善法,於法簡
擇極簡擇,廣說乃至毘鉢舍那,故名為見。若
念諸欲者,云何名諸欲?答:欲亦名諸欲、欲界
亦名諸欲、五妙欲境亦名諸欲,今此義中意
說五妙欲境名諸欲,由此故名。若念諸欲,便
於諸欲心不趣入不信樂不安住無勝解者,
謂聖弟子於妙欲境,以稱讚俱行作意審思
惟時,不起隨順心、隨順信、隨順欲、隨順心勝

解、已勝解、當勝解,由此故名便於諸欲心不
趣入不信樂不安住無勝解。卷縮不伸者,謂
聖弟子於諸妙欲,以稱讚俱行作意審思惟
時,心不樂住、不隨順、不趣向、不臨入,故名卷
縮。不伸棄捨而住厭惡毀呰制伏違逆者,謂
聖弟子於諸妙欲,以稱讚俱行作意審思惟
時,於諸妙欲棄捨而住,厭惡毀呰制伏違逆
故,名棄捨而住厭惡毀呰制伏違逆。若念出
離者,云何出離?答:出離亦名出離、出離界亦
名出離、色界善根亦名出離、初靜慮亦名出
離,今此義中意說初靜慮名出離,由此故名,
若念出離,便於出離深心趣入信樂安住有
勝解者,謂聖弟子於此出離,以勝解俱行作
意審思惟時,便生隨順心、隨順信、隨順欲、隨
順心勝解、已勝解、當勝解,由此故名便於出
離深心趣入信樂安住。有勝解不卷縮恒舒
泰者,謂聖弟子於此出離,以稱讚俱行作意
審思惟時,心樂安住順趣臨入,故名不卷縮
恒舒泰。心不厭毀任運現行者,謂聖弟子於
此出離,以稱讚俱行作意審思惟時,非如於
欲心不樂住,厭惡毀呰制伏違逆,由此故言
心不厭毀任運現行。其心安樂者,謂聖弟子
當於爾時,其心安樂無勞無損成無倦法,由
此故言其心安樂。易修習者,謂聖弟子當
於爾時,數數修習數數作意相應修習,故名
易修習。善修習者,謂聖弟子當於爾時,因故、
門故、理故、行故,殷重修習、堅住修習、恭敬修
習、作意修習故,名善修習。於諸欲緣所起諸
漏損害熱惱皆得解脫,從彼起已離繫解脫

者,謂聖弟子由此因緣,於諸欲中心得解脫,
從彼起已離繫解脫,由斯故說於諸欲緣所
起諸漏損害熱惱皆得解脫,從彼起已離繫
解脫。不受彼因彼緣諸受者,謂於諸欲若未
斷未遍知便受苦受,若已斷已遍知不受苦
受,由斯故說不受彼因彼緣諸受,如是名為
於欲出離者。問:今於此中何謂出離?答:永斷
諸欲亦名出離、超過諸欲亦名出離、捨離塵
俗亦名出離、色界善根亦名出離、初靜慮亦
名出離,今此義中意說初靜慮名出離。於恚
無恚者,問:恚云何?答:恚亦名恚、恚界亦名恚,
今此義中意說恚界名恚。問:無恚云何?答:無
恚亦名無恚、無恚界亦名無恚、慈心定亦名
無恚,今此義意說慈心定名無恚。於害無害
者,問:害云何?答:害亦名害、害界亦名害,今此
義中意說害界名害。問:無害云何?答:無害亦
名無害、無害界亦名無害、悲心定亦名無害,
今此義中意說悲心定名無害。於色無色者,
問:色云何?答:色亦名色、色界亦名色、四靜慮
亦名色,今此義中意說四靜慮名色。問:無色
云何?答:無色亦名無色、無色界亦名無色、四
無色亦名無色,今此義中意說四無色名無
色。諸有多聞聖弟子眾具猛利見者,如前說。
若念有身者,有身亦名有身、五取蘊亦名有
身,今此義中意說五取蘊名有身。便於有身
心不趣入等,如前欲說。若念有身滅者,有身
滅亦名滅、擇滅亦名滅,今此義中意說擇滅
名滅非餘。

Việt dịch

QUYỂN 14
Phẩm 6: NĂM PHÁP, Phần 4
Có năm lĩnh vực giải thoát:
1. Quý vị nên biết! Nếu các Bí-sô hay các Bí-sô ni được hoặc bậc 
Đại sư nói các pháp yếu, hoặc một vị có trí đồng tu phạm hạnh đáng 
tôn trọng như bậc Đại sư nói các pháp yếu, hoặc vì có trí đồng tu phạm 
hạnh nói các pháp yếu. Các pháp yếu như thế người ấy đều hiểu biết 
đúng đắn. Do hiểu biết đúng đắn hoặc pháp hoặc nghĩa nên liền sinh 
vui, vì vui nên sinh mừng. Tâm mừng vui nên thân nhẹ nhàng khoan 
khoái, thân nhẹ nhàng khoan khoái nên nhận được niềm hoan lạc. Do 
có hoan lạc nên tâm yên định, tâm yên định nên thấy biết như thật, thấy 
biết như thật nên sinh chán ghét, vì chán ghét mới lìa bỏ, vì lìa bỏ nên 
được giải thoát. Đó là lĩnh vực giải thoát thứ nhất. Thế nên các vị Bí-sô, 
Bí-sô ni nên an trụ vào lĩnh vực đó. Nếu ai niệm chưa trụ thì nên trụ vào 
chánh niệm, tâm chưa định thì nên trụ vào chánh định, lậu chưa dứt thì 
nên dứt trừ các lậu, chưa chứng được Niết-bàn an ổn vô thượng thì hãy 
nhanh chóng chứng ngộ.
2. Lại nữa quý vị, nếu các Bí-sô, Bí-sô ni, dù không có bậc Đại 
sư hay một vị có trí đồng tu phạm hạnh đáng quý trọng để nói các pháp 
yếu. Nhưng chính mình thường lớn tiếng đọc tụng các pháp yếu rốt ráo 
đã từng được nghe. Do vì đã lớn tiếng đọc tụng như thế nên hiểu biết 
đúng đắn về pháp hoặc nghĩa của các pháp yếu ấy. Do đó mà sinh vui, 
vì vui nên mừng, vì tâm mừng nên thân nhẹ nhàng khoan khoái, vì thân 
nhẹ nhàng khoan khoái nên nhận được niềm hoan lạc. Do có hoan lạc 
nên tâm yên định, tâm yên định nên thấy biết như thật, thấy biết như 
thật nên sinh chán ghét, vì chán ghét nên lìa bỏ, vì lìa bỏ nên được giải 
thoát. Đây là lĩnh vực giải thoát thứ hai. Thế nên các vị Bí-sô, Bí-sô ni 

===== PAGE 221 =====
SỐ 1536 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA TẬP DỊ MÔN TÚC - Quyển 14 221
hãy nên an trụ vào lĩnh vực đó. Nếu ai niệm chưa trụ thì nên trụ vào 
chánh niệm, tâm chưa định thì nên trụ vào chánh định, lậu chưa dứt thì 
nên dứt trừ các lậu, chưa chứng được Niết-bàn an ổn vô thượng thì hãy 
nhanh chóng chứng ngộ.
3. Lại nữa quý vị, nếu có các Bí-sô, Bí-sô ni không có bậc Đại sư 
hay một vị có trí đồng tu phạm hạnh đáng tôn trọng đến nói pháp yếu, 
cũng không lớn tiếng đọc tụng các pháp yếu đã từng được nghe mà chỉ 
thường vì người khác mà diễn giảng chỉ bày các điều, các pháp yếu rốt 
ráo đã từng được nghe. Do vì diễn giảng chỉ bày cho người khác các 
pháp yếu nên đã hiểu biết đúng đắn về pháp hoặc nghĩa của chúng. 
Do đó mà sinh vui, vì vui nên mừng, vì tâm mừng nên thấy nhẹ nhàng 
khoan khoái, vì thân nhẹ nhàng khoan khoái nên nhận được niềm hoan 
lạc. Do có hoan lạc nên tâm yên định, tâm yên định nên thấy biết như 
thật, thấy biết như thật nên sinh chán ghét. Vì chán ghét nên lìa bỏ, vì 
lìa bỏ nên được giải thoát. Đó gọi là lĩnh vực giải thoát thứ ba. Thế nên 
quý vị Bí-sô, Bí-sô ni hãy nên an trụ vào lĩnh vực đó. Ai mà niệm chưa 
trụ thì nên trụ vào chánh niệm, tâm chưa định thì nên trụ vào chánh 
định, lậu chưa dứt thì nên diệt trừ các lậu, chưa chứng được Niết-bàn an 
ổn vô thượng thì hãy nhanh chóng chứng ngộ.
4. Lại nữa quý vị, nếu các Bí-sô, Bí-sô ni, tuy không có Đại sư 
hoặc một bậc trí đồng tu phạm hạnh đáng tôn trọng khác đến nói pháp 
yếu cũng không lớn tiếng đọc tụng hay vì người khác mà diễn giảng 
rộng nói chỉ bày các pháp yếu, mà chỉ riêng ở nơi vắng vẻ một mình tự 
suy nghĩ xét lường quan sát các điều pháp yếu rốt ráo đã từng được nghe 
qua. Do chỉ riêng mình suy nghĩ xét lường quan sát các pháp yếu rốt ráo 
nên đã hiểu biết đúng đắn về pháp và nghĩa của các pháp yếu ấy. Do đó 
mà sinh vui, vì vui nên mừng, vì tâm mừng nên thân nhẹ nhàng khoan 
khoái, thân nhẹ nhàng khoan khoái rồi nên nhận được niềm hoan lạc. 
Do có hoan lạc nên tâm yên định, tâm yên định nên thấy biết như thật, 
thấy biết như thật nên sinh chán ghét. Vì chán ghét nên mới lìa bỏ, vì 
lìa bỏ nên được giải thoát. Đó gọi là lĩnh vực giải thoát thứ tư. Thế nên 
quý vị Bí-sô, Bí-sô ni hãy nên trụ vào lĩnh vực đó. Ai có niệm chưa trụ 
thì nên trụ vào chánh niệm, tâm chưa định thì nên trụ vào chánh định, 
lậu chưa dứt thì nên dứt trừ các lậu, chưa chứng được Niết-bàn an ổn vô 
thượng thì hãy nhanh chóng chứng ngộ.
5. Lại nữa quý vị, nếu các Bí-sô, Bí-sô ni tuy không có Đại sư hay 
bậc trí đồng tu phạm hạnh khác đáng tôn trọng đến nói các pháp yếu, 
cũng không lớn tiếng đọc tụng các pháp yếu hay vì giảng nói chỉ bày 

===== PAGE 222 =====
222 BỘ TỲ ĐÀM 1
các pháp yếu, cũng không ở chỗ vắng vẻ chỉ một mình suy tư xét lường 
quan sát các pháp yếu rốt ráo đã từng nghe được, nhưng có bao nhiêu 
nghĩa lý sâu xa thì khéo léo giữ gìn tuân hành vào một tướng nhất định. 
Và với cái tướng đó mà luôn luôn khéo léo suy tư tìm hiểu rồi hiểu biết 
rõ ràng và thông suốt thấu đáo. Do đó mà hiểu đúng đắn về pháp hoặc 
nghĩa của các pháp yếu rốt ráo đó. Do đó mà sinh vui, vì vui nên mừng. 
Vì tâm mừng nên thân nhẹ nhàng khoan khoái, thân nhẹ nhàng khoan 
khoái nên nhận được niềm hoan lạc. Vì có hoan lạc nên tâm yên định, 
tâm yên định nên thấy biết như thật, thấy biết như thật nên sinh chán 
ghét, vì chán ghét nên mới lìa bỏ, vì lìa bỏ nên được giải thoát. Đó là 
lĩnh vực giải thoát thứ năm. Thế nên quý vị Bí-sô, Bí-sô ni hãy nên trụ 
vào lĩnh vực đó. Ai có niệm chưa trụ thì nên trụ vào chánh niệm, tâm 
chưa định thì nên trụ vào chánh định, lậu chưa dứt thì hãy dứt trừ các 
lậu, chưa chứng được Niết-bàn an ổn tột bậc thì hãy nhanh chóng chứng 
ngộ.
Ở trong đây khi nói bậc Đại sư hay bậc trí đồng tu phạm hạnh đáng 
tôn trọng đến nói pháp yếu.
Đại sư ấy là ai? Đại sư đó chính là Như Lai Ứng Chánh Đẳng 
Giác.
Bậc trí đồng tu phạm hạnh đáng tôn trọng đó là ai? Đó là các Tôn 
giả: Kiều Trần Na, Mã Thắng, Hiền Thắng, Vụ Khí, Đại Danh, Na Xá, 
Viên Mãn, Vô Cấu, Diệu Tý, Ngưu Chủ, Xá Lợi Tử, Đại Thái Thục 
Thị, Đại Ca Diếp Ba, Đại Kiếp Phỉ Na, Đại Quản Cấu Thị, Đại Ca Đa 
Diễn Na, Đại Chấp Tàng, Đại Thiện Kiến, Đại Lộ, Tùy Thuận Vô Diệt 
Dục Lạc, Kim Tỳ La v.v... đều gọi là bậc trí đồng tu phạm hạnh đáng 
tôn trọng.
Pháp là gì? Là danh từ, câu nói, câu văn thì gọi là pháp. Tức là 
trước đây bậc Đại sư và các bậc trí đồng tu phạm hạnh đáng tôn trọng 
đã dùng các thứ danh từ, câu nói, câu văn để nói giảng cho mọi người 
trình bày, lập nên các luận thuyết, giải bày phân biệt, chỉ dẫn rõ ràng. 
Do đó mà nói là pháp yếu. Như các pháp yếu do các Đại sư và các bậc 
trí đồng tu phạm hạnh đáng tôn trọng nói ra như thế, như thế..., thì người 
ấy hiểu biết đúng đắn về pháp hoặc nghĩa.
Hiểu biết đúng đắn về pháp là sao? Với danh từ, câu nói, câu văn 
thì gọi là pháp. Người ấy đối với các pháp đó mà hiểu tất cả, hiểu gần, 
hiểu rõ ràng, thấu suốt sự sai khác về phẩm chất và chủng loại của nó. 
Vì đã chứng được trí không hai và không lui sụt, nên có thể hiểu biết 
đúng đắn về pháp.

===== PAGE 223 =====
SỐ 1536 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA TẬP DỊ MÔN TÚC - Quyển 14 223
Hiểu biết đúng đắn về nghĩa là sao? Được danh từ, câu nói, câu 
văn chỉ bày nói về nó, nói khắp tất cả để trình bày, chỉ rõ, biểu thị thì 
gọi là nghĩa. Đối với nghĩa nầy, người đó hiểu biết tất cả, hiểu gần, hiểu 
rõ ràng, thấu suốt được chỗ sai khác về phẩm chất và chủng loại của nó. 
Vì đã chứng được trí không hai và không lui sụt, nên có thể hiểu biết 
đúng đắn về nghĩa.
Do hiểu biết đúng đắn về pháp hoặc nghĩa nên sinh ra vui, tức là 
đầu tiên thì sinh ra mừng gọi là vui. Với niềm vui nầy người đó khởi tất 
cả, sinh tất cả, đang chuyển đổi, tu tập và xuất hiện. Do đó mà nói sinh 
ra vui.
Vì vui nên sinh ra mừng, nghĩa là vui hết mực thì gọi là mừng. Đối 
với mừng nầy, người ấy khởi tất cả, sinh tất cả, đang chuyển đổi tu tập 
và xuất hiện. Do đó mà nói vui sinh ra mừng. Tâm mừng nên thân nhẹ 
nhàng khoan khoái, người ấy từ vui sinh ra tâm mừng, nên trong pháp 
hiện đời thì thân nặng nên có tính chất bị đoạn diệt: Tâm nặng cũng bị 
đoạn diệt. Thân chịu đựng làm việc được, tâm cũng chịu đựng làm việc 
được. Nếu thân tinh tế linh hoạt thì tâm cũng thế, thân nhẹ nhàng khoan 
khoái thì tâm cũng vậy. Thân lìa sự che lấp, tâm cũng thế, thân biếng 
lười tâm cũng thế, thân không mỏi mệt bê trễ tâm cũng thế. Do đó mà 
nói tâm vui mừng thì thân cũng khoan khoái nhẹ nhàng.
Thân khoan khoái nhẹ nhàng nên nhận được niềm hoan lạc. Nghĩa 
là thân đã chịu đựng được, làm được thì thân cũng chịu đựng làm việc 
được... Rộng nói cho đến thân không mỏi mệt tâm cũng thế, thân có 
niềm vui thì tâm cũng vui mừng tuyệt diệu. Do đó nên nói thân nhẹ 
nhàng khoan khoái nên nhận được hoan lạc.
Vì có hoan lạc nên tâm yên định, nghĩa là vì có hoan lạc nên xa 
lìa được mọi cực nhọc mệt mỏi. Vì không cực nhọc mệt mỏi nên pháp 
hạnh bình đẳng, cho nên tâm trụ được an trụ vào tất cả, trụ gần nhất và 
một hướng tiến đến được Tam-ma-địa. Do đó nên nói có hoan lạc thì 
tâm yên định.
Tâm định nên thấy biết đúng như thật, nghĩa là người ấy khi có 
tâm đã trụ vào chỗ không có hai, không có chuyển đổi. Bấy giờ thì đối 
với khổ thì thấy biết như thật đó là khổ. Đối với các thứ tập, diệt, đạo 
cũng thấy biết như thật đó là tập, diệt, đạo. Do đó nên nói tâm định nên 
thấy biết đúng như thật.
Vì thấy biết như thật nên sinh chán ghét, là khi người ấy đối với 
khổ biết như thật đó là khổ, đối với tập, diệt, đạo cũng thấy biết như 
thật đó là tập, diệt, đạo, thì lúc đó đối với năm uẩn liền sinh chán ghét 

===== PAGE 224 =====
224 BỘ TỲ ĐÀM 1
nghịch ý. Do đó mà nói thấy biết như thật nên sinh chán ghét.
Vì chán ghét nên lìa bỏ, là khi người đó đối với năm uẩn sinh ý 
chán ghét trái nghịch thì bấy giờ đối với ba gốc tội ác là tham, sân, si 
có thể làm cho mỏng bớt, nhẹ bớt đi. Giống như người đem các áo màu 
xanh, vàng nhúng nước rồi phơi dưới ánh mặt trời chói chang thì các 
màu sắc ấy sẽ phai nhanh. Như thế vì đã chán ghét năm uẩn mà làm 
giảm nhẹ bớt ba gốc độc tham, sân, si, nên nói là vì chán nên lìa bỏ.
Vì lìa bỏ nên được giải thoát, là khi người ấy đã giảm nhẹ đi ba 
gốc độc thì tâm người ấy đối với tham, sân, si sẽ được giải thoát.
Đó là hàng thứ nhất, tức là theo thứ tự liên tục đếm dần lên thì nó 
ở hàng thứ nhất.
Lĩnh vực giải thoát. Vì sao ở đây gọi là lĩnh vực giải thoát? Trong 
đây có bảy thứ gọi là lĩnh vực giải thoát đó là: 
1. Hiểu biết đúng đắn về pháp. 
2. Hiểu biết đúng đắn về nghĩa. 
3. Vui. 
4. Mừng. 
5. Nhẹ nhàng khoan khoái. 
6. An lạc. 
7. Định.
Thế nên các Bí-sô, Bí-sô ni v.v..., ấy là khuyên nên học đạo lý 
không gián đoạn. Đối với nghĩa trong đây nói các Bí-sô, Bí-sô ni nên an 
trụ vào lĩnh vực đó. Nghĩa là nên trụ vào lĩnh vực đó, cùng trụ, trụ gần. 
Nên nói là an trụ vào lĩnh vực đó.
Ai có niệm chưa trụ thì nên trụ vào chánh niệm, tức nên trụ vào tứ 
niệm trụ (tứ niệm xứ).
Tâm chưa định thì nên trụ vào chánh định, tức nên trụ vào bốn thứ 
thiền định.
Lậu chưa dứt thì nên dứt trừ các lậu.
Các lậu là gì? Có ba thứ lậu, đó là dục lậu, hữu lậu và vô minh 
lậu. Người nầy, đối ba thứ lậu đó dứt hết, cùng dứt, dứt khắp, hiện đang 
dứt, sẽ dứt và dứt trừ nhanh chóng. Do đó mà nói lậu chưa dứt thì nên 
dứt trừ các lậu.
Chưa chứng được Niết-bàn an ổn tột bậc thì hãy nhanh chóng 
chứng ngộ, nghĩa là các ái dục đã dứt hết, lìa bỏ, tịch diệt và Niết-bàn, 
nên nói là Niết-bàn an ổn tột bậc, người ấy nhanh chóng ở trong đó mà 
được tùy thuận với Niết-bàn, tiếp xúc với Niết-bàn và chứng được Niết-
bàn. Do đó mà nói chưa chứng Niết-bàn an ổn tột bậc thì nên nhanh 

===== PAGE 225 =====
SỐ 1536 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA TẬP DỊ MÔN TÚC - Quyển 14 225
chóng chứng ngộ.
Giỏi lớn tiếng đọc tụng các pháp yếu rốt ráo đã từng được nghe 
theo, nghĩa là dùng âm thanh to lớn mà đọc tụng các pháp yếu như đã 
nghe trước đây.
Mà hay vì người khác mà rộng nói diễn giảng chỉ bày các pháp 
yếu rốt ráo, đã từng nghe, nghĩa là người ấy giỏi vì người khác mà nói, 
trình bày lập nên các luận thuyết, tỏ bày phân biệt, giảng giải rõ ràng 
các pháp yếu như đã nghe trước đây.
Giỏi ở riêng chỗ vắng vẻ yên tịnh một mình suy xét, tính lường, 
quan sát theo các pháp yếu rốt ráo đã từng được nghe.
Có bao nhiêu nghĩa lý sâu xa, tức là riêng một mình ở chỗ vắng vẻ 
yên tịnh mà suy nghĩ tìm xét khắp các phương diện, chọn lựa kỹ càng, 
quan sát tinh tế như các nghĩa lý sâu xa của các pháp yếu rốt ráo mà đã 
từng được nghe trước đây.
Lại khéo tuân hành giữ gìn một tướng nhất định, đối với tướng 
nhất định ấy người đó khéo suy tư tìm hiểu, lại khéo hiểu biết rõ ràng 
và thông suốt thấu đáo, nghĩa là khéo giữ gìn nhất định và các định 
tướng. Đối với tướng nhất định ấy, người nầy hay khéo suy tư tìm hiểu, 
lại hiểu biết rõ ràng và thông suốt thấu đáo rành rẽ việc nhập trụ xuất 
tướng. Còn các điều khác thì như trước đã nói.
- Có năm căn: 
1. Tín căn. 
2. Tinh tấn căn. 
3. Niệm căn. 
4. Định căn. 
5. Tuệ căn. Đây là tướng của năm căn, như trước đã nói nhiều.
- Có năm lực: 
1. Tín lực. 
2. Tinh tấn lực. 
3. Niệm lực. 
4. Định lực. 
5. Tuệ lực.
- Tín lực là sao?
Đáp: Ở chỗ Như Lai luôn tu tập gieo trồng các thứ tịnh tín sinh căn 
và an trụ. Chẳng bị các Sa-môn, Bà-la-môn hoặc Trời, Ma, Phạm thiên 
hay các cõi thế gian khác dẫn dụ chiếm đoạt. Đó gọi là tín lực.
- Tinh tấn lực là sao?
Đáp: Đối với mình khi sinh ra các điều bất thiện thì phải cố gắng 

===== PAGE 226 =====
226 BỘ TỲ ĐÀM 1
diệt trừ cho dứt hẳn. Do đó mà cần phải siêng năng cố gắng luôn luôn, 
cho đến đã rộng nói về bốn thứ chánh đoạn. Đó là sức tinh tấn (tinh tấn 
lực).
- Niệm lực là sao?
Đáp: Đối với nội thân mà trụ, mà luôn theo giỏi quan sát cho đến 
rộng nói về bốn thứ niệm trụ (tứ niệm xứ). Nên gọi là niệm lực.
- Định lực là sao?
Đáp: Lìa bỏ các ác dục và pháp chẳng thiện, cho đến rộng nói về 
bốn thứ tĩnh lự (tứ thiền). Đó gọi là định lực.
- Tuệ lực là sao?
Đáp: Tức là hiểu biết đúng như thật rằng đây là khổ thánh đế, đây 
là khổ tập thánh đế, đây là khổ diệt thánh đế, đây là đường đi đến chỗ 
hết khổ thánh đế. Đó là tuệ lực.
Vì sao lại gọi là lực (sức)?
Đáp: Nhân vì sức như thế, nương vào các sức như thế, trụ vào các 
sức như thế..., thì tất cả mọi sự trói buộc chặt chẽ của tùy miên và tùy 
phiền não đều có khả năng cắt đứt có thể cắt đứt, đập nát, chế phục, 
phá hoại nó đi..., cho nên gọi là sức.
Có năm thứ chẳng trở lại (Bất hoàn):
1. Trung bát Niết-bàn Bổ-đặc-già-la.
2. Sinh bát Niết-bàn Bổ-đặc-già-la.
3. Hữu hành bát Niết-bàn Bổ-đặc-già-la.
4. Không hành bát Niết-bàn Bổ-đặc-già-la.
5. Thượng lưu bát Niết-bàn Bổ-đặc-già-la.
- Thế nào là Trung bát Niết-bàn Bổ-đặc-già-la?
Đáp: Có những chúng sinh (Bổ-đặc-già-la) ở trong hiện đời đã 
đoạn dứt năm kết thuận phần dưới, mà chưa đoạn dứt được năm kết 
thuận phần trên, cho nên còn tạo tác thêm nhiều mà khởi lên các nghiệp 
của dị thục và các nghiệp sinh dị thục. Do đó sau khi chết, người nầy có 
khởi ý ở trong cõi trời thuộc Sắc giới xong liền được các đạo lực vô lậu 
như thế, rồi tiến đến việc đoạn trừ thật hết các kiết sử còn sót mà chứng 
nhập Niết-bàn. Thế nên gọi là Trung bát Niết-bàn chúng sinh.
Hỏi: Vì sao lại gọi là Trung bát Niết-bàn chúng sinh?
Đáp: Do vì loại chúng sinh nầy có các trình độ rất mạnh mẽ, còn 
các kiết sử thì yếu ớt mỏng nhẹ, đã vượt thoát khỏi cõi Dục, nhưng chưa 
đến được cõi Sắc. Ở trong khoảng giữa đó (cõi Dục và cõi Sắc) mà 
được các đạo lực vô lậu như thế, rồi tiến đến việc đoạn trừ thật hết các 
kiết sử còn sót mà chứng nhập Niết-bàn, nên gọi là Trung Bát Niết-bàn 

===== PAGE 227 =====
SỐ 1536 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA TẬP DỊ MÔN TÚC - Quyển 14 227
chúng sinh.
- Thế nào gọi là Sinh bát Niết-bàn Bổ-đặc-già-la?
Đáp: Có các chúng sinh, ở trong hiện pháp, đối với năm kết thuận 
phần dưới thì đã đoạn dứt và biết khắp, còn năm kết thuận phần trên thì 
chưa đoạn dứt và biết khắp. Cho nên còn tạo tác thêm nhiều mà khởi 
lên các nghiệp của dị thục và nghiệp sinh dị thục. Do đó sau khi chết vì 
có khởi ý ở cõi trời thuộc Sắc giới nên được sinh vào cõi trời thuộc Sắc 
giới, sau khi ở đó chẳng bao lâu thì chứng được đạo lực vô lậu như thế, 
rồi tiến đến việc đoạn trừ thật hết các kiết sử còn sót mà chứng nhập 
Niết-bàn, nên gọi là Sinh bát Niết-bàn chúng sinh.
Hỏi: Vì sao gọi là Sinh bát Niết-bàn chúng sinh?
Đáp: Do vì loại chúng sinh nầy vừa mới sinh chưa được bao lâu thì 
liền có được các đạo lực vô lậu như thế, rồi tiến đến việc đoạn trừ thật 
hết các kiết sử còn sót mà chứng nhập Niết-bàn. Nên gọi là Sinh bát 
Niết-bàn chúng sinh. Lại có chỗ nói loại chúng sinh đó vừa mới sinh 
chưa được bao lâu liền có được các đạo lực vô lậu như thế, rồi tiến đến 
việc đoạn trừ thật hết các kiết sử còn sót, sau đó phải sống hết kiếp rồi 
mới nhập vào cõi Niết-bàn vô dư, nên gọi là Sinh Bát Niết-bàn chúng 
sinh.
- Thế nào là Hữu hành bát Niết-bàn Bổ-đặc-già-la?
Đáp: Có những chúng sinh ở hiện pháp đối với năm kết thuận 
phần dưới thì đã đoạn dứt và đã biết khắp, còn năm kết thuận phần trên 
thì chưa đoạn và chưa biết khắp. Cho nên còn tạo tác thêm nhiều mà 
khởi lên các nghiệp của dị thục và nghiệp sinh dị thục. Do đó sau khi 
chết vì có khởi ý ở cõi trời thuộc Sắc giới nên được sinh vào cõi trời 
thuộc Sắc giới. Sau đó nương vào đạo hữu hành và nhờ sức siêng năng 
chuyên cần và khởi ý có siêng gắng, luôn tu tập chẳng nghỉ ngơi đạo gia 
hạnh, rồi tiến đến việc diệt trừ hết các kiết sử còn sót mà chứng nhập 
Niết-bàn. Thế nên gọi là Hữu hành bát Niết-bàn chúng sinh.
Hỏi: Vì sao gọi là Hữu hành bát Niết-bàn chúng sinh?
Đáp: Do vì loại chúng sinh nầy y vào đạo hữu hành nhờ phần hành 
và cần tác ý (sức siêng năng chuyên cần mà khởi ý có siêng gắng) tu 
tập mãi không thôi cái đạo gia hành rồi tiến đến việc dứt trừ hết các kiết 
sử còn sót mà chứng nhập Niết-bàn. Nên gọi là Hữu hành bát Niết-bàn 
chúng sinh. Lại có chỗ nói loại chúng sinh nầy nương vào định duyên 
hữu vi mà tiến đến việc dứt trừ thật hết các kiết sử còn sót mà chứng 
nhập Niết-bàn. Nên gọi là Hữu hành bát Niết-bàn chúng sinh.
- Thế nào là Không hành bát Niết-bàn Bổ-đặc-già-la?

===== PAGE 228 =====
228 BỘ TỲ ĐÀM 1
Đáp: Có các chúng sinh ở trong hiện pháp, đối với năm kết thuận 
phần dưới thì đã đoạn dứt và đã biết khắp, còn năm kết thuận phần 
trên thì chưa đoạn dứt, chưa biết khắp, cho nên còn tạo tác thêm nhiều 
mà khởi lên các nghiệp của dị thục và nghiệp sinh dị thục. Do đó sau 
khi chết rồi, vì có khởi ý ở cõi Sắc nên được sinh lên cõi trời thuộc Sắc 
giới. Sau đó nương vào đạo vô hành, nhờ hạnh vô cần, và tác ý vô cần, 
tu tập mãi không thôi, nghĩ Đạo gia hạnh, rồi tiến đến việc diệt trừ hết 
các kiết sử khác mà chứng nhập Niết-bàn. Nên gọi là Không hành bát 
Niết-bàn chúng sinh. Lại có chỗ nói: Do vì loại chúng sinh nầy dựa vào 
định, duyên nơi vô vi mà tiến đến việc diệt trừ hết các kiết sử khác rồi 
mới vào cõi Niết-bàn vô dư. Cho nên gọi là Không hành bát Niết-bàn 
chúng sinh.
- Thế nào gọi là Thượng lưu bát Niết-bàn Bổ-đặc-già-la?
Đáp: Có các chúng sinh ở hiện pháp, đối với năm kết thuận phần 
dưới thì đã đoạn dứt và đã biết khắp, còn năm kết thuận phần trên thì 
chưa đoạn dứt và chưa biết khắp. Cho đến hiện vào tu xen tạp cả loại 
tĩnh lự (Thiền) thứ tư của thế tục. Đến khi sắp chết thì hạ xuống ba bậc 
thiền, chỉ trụ vào sơ thiền mà chết. Do đó mà tạo tác thêm lớn khởi lên 
các nghiệp của dị thục và sinh dị thục, cho nên khi chết đi thì khởi ý 
vào cõi trời Sắc, và được sinh vào cõi Sắc Phạm Chúng thiên. Sau khi 
sinh rồi thì hiện nhập vào đệ nhị thiền của thế tục. Đến khi chết thì tạo 
tác thêm nhiều nên khởi lên các nghiệp của dị thục và nghiệp sinh dị 
thục. Sau khi chết khởi ý vào cõi trời thuộc Sắc giới nên được vãng sinh 
lên cõi Sắc Quang Âm thiên. Sau khi sinh ở đó rồi hiện nhập vào đệ 
tam thiền của thế tục. Khi chết vì tạo tác thêm nhiều nên khởi lên các 
nghiệp của dị thục và nghiệp sinh dị thục. Sau khi chết vì khởi ý ở cõi 
trời thuộc Sắc giới nên được vãng sinh vào cõi Sắc Biến Tịnh thiên. Sau 
khi sinh rồi thì hiện nhập vào đệ tứ thiền của thế tục. Khi chết vì tạo 
tác thêm nhiều nên khởi lên các nghiệp của dị thục và nghiệp sinh dị 
thục. Sau khi chết vì có khởi ý ở cõi trời thuộc Sắc giới nên được vãng 
sinh vào cõi Sắc cõi trời Vô Phiền. Sau khi sinh rồi hiện nhập vào Trung 
phẩm tạp tu đệ tứ thiền của thế tục. Khi chết vì tạo tác thêm nhiều nên 
khởi lên các nghiệp của dị thục và nghiệp sinh dị thục. Sau khi chết rồi 
vì có khởi ý ở cõi trời thuộc Sắc giới nên được vãng sinh vào cõi Sắc 
cõi trời Vô Nhiệt. Sau khi sinh rồi thì hiện nhập vào Thượng phẩm tập 
tu đệ tứ thiền của thế tục. Khi chết vì tạo tác thêm nhiều nên khởi lên 
các nghiệp của dị thục và nghiệp sinh dị thục. Sau khi chết rồi vì có khởi 
ý ở cõi trời thuộc Sắc giới cõi trời Thiện Hiện. Sau khi sinh rồi thì hiện 

===== PAGE 229 =====
SỐ 1536 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA TẬP DỊ MÔN TÚC - Quyển 14 229
nhập vào Thượng Thắng phẩm tạp tu đệ tứ thiền của thế tục. Khi chết vì 
tạo tác thêm nhiều nên khởi lên các nghiệp của dị thục và nghiệp sinh 
dị thục. Sau khi chết rồi vì có khởi ý ở cõi trời thuộc Sắc giới, nên được 
vãng sinh vào cõi Sắc nơi cõi trời Thiện Kiến. Sau khi sinh rồi thì hiện 
nhập vào Thượng thượng phẩm tối cực viên mãn tạp tu đệ tứ thiền của 
thế tục. Khi chết vì tạo tác thêm nhiều nên khởi lên các nghiệp của dị 
thục và nghiệp sinh dị thục. Sau khi chết rồi vì có khởi ý ở cõi trời thuộc 
Sắc giới, nên được vãng sinh vào cõi trời Sắc cứu cánh. Sau khi sinh rồi 
thì mới được các đạo lực vô lậu như thế, rồi tiến đến việc diệt trừ thật 
hết các kiết sử khác còn sót xong mới chứng nhập vào cõi Vô dư y bát 
Niết-bàn. Thế nên gọi là Thượng lưu bát Niết-bàn Bổ-đặc-già-la.
Hỏi: Vì sao gọi là Thượng lưu chúng sinh?
Đáp: Có hai thứ lưu (dòng). Đó là nghiệp sinh tử và phiền não. 
Người nầy đối với hai thứ đó đều chưa đoạn dứt, chưa biết khắp. Do 
nhân duyên đó mà phải đi trên con đường ấy, trôi lăn lặn hụp trong 
dòng thác của sinh tử và phiền não ấy. Cho nên gọi là Thượng lưu 
chúng sinh.
Lại có nơi nói: Do vì loại chúng sinh bất hoàn (chẳng trở lại) nầy 
dần dần tiến bộ mãi lên sau nầy chứng được thiền định nên có thể lãnh 
thọ (hiểu được chứng được) được các pháp cao quý vĩnh viễn không còn 
lui sụt nữa. Cho nên gọi là Thượng lưu (bậc trên).
Lại còn, thượng lưu tóm tắt có hai thứ, đó là: 
1. Hành cõi Sắc. 
2. Hành cõi Vô sắc.
Hành cõi Sắc, tức là xem cõi trời Sắc cứu cánh là chỗ cao tột 
nhất.
Hành cõi Vô sắc, tức là xem cõi Phi tưởng phi phi tưởng xứ là chỗ 
cao tột nhất.
Có năm cõi trời Tịnh Cư:
1. Cõi trời Vô Phiền.
2. Cõi trời Vô Nhiệt.
3. Cõi trời Thiện Hiện.
4. Cõi trời Thiện Kiến.
5. Cõi trời Sắc Cứu Cánh.
- Thế nào là cõi trời Vô Phiền?
Đáp: Nghĩa là ở trên cõi trời Vô Phiền thì mọi người cùng xem 
nhau như một, là bạn bè thân thiết cùng chung số phần sống với nhau, 
tức cùng nương nhờ sự việc các nơi ở đều giống nhau. Lại nếu sinh vào 

===== PAGE 230 =====
230 BỘ TỲ ĐÀM 1
cõi trời Vô Phiền thì hết thảy sắc, thọ, tưởng, hành, thức đều vô phú vô 
ký. Nên gọi là cõi trời Vô Phiền.
Lại còn vì là cõi trời Vô Phiền nên đối với khổ thì thấy là khổ, với 
tập thì thấy là tập, với diệt thì thấy là diệt, với đạo thì thấy là đạo. Nên 
gọi là cõi trời Vô Phiền.
Lại nữa vì là cõi trời Vô Phiền nên thân và tâm không hề bị buồn 
phiền nhiễu loạn. Vì thân tâm không bị phiền nhiễu nên nhận được sự 
yên vắng tịch tĩnh, khắp nơi đều trong sạch và các thọ nhận đều vô lậu 
vi diệu, nên gọi là cõi trời Vô Phiền. Lại còn ở cõi ấy thì tất cả đều 
giống nhau người nầy người kia chỉ khác nhau về tên gọi và các ý nghĩ 
nên đặt ra mà nói năng..., và gọi là cõi trời Vô phiền.
- Thế nào là cõi trời Vô Nhiệt?
Đáp: Nghĩa là ở trên cõi trời Vô nhiệt thì mọi người như một là 
bạn bè thân thích cùng chung số phần sống như nhau, cùng nương nhờ 
sự việc, nơi ở... đều giống nhau. Lại nếu sinh vào cõi đó thì hết thảy sắc 
thọ tưởng hành thức đều vô phú vô ký nên gọi là cõi trời Vô Nhiệt.
Lại còn vì là cõi trời Vô Nhiệt nên đối với khổ thì thấy là khổ, đối 
với tập, diệt, đạo..., cũng thấy rõ là tập, diệt, đạo. Lại còn sinh lên cõi 
ấy thì thân và tâm không hề bị nóng nảy buồn rầu (nhiệt não) do thân 
tâm không bị buồn rầu nóng nảy nên lãnh thọ được sự yên vắng tịch 
tĩnh, khắp nơi đều trong sạch và các thọ nhận đều vô lậu vi diệu nên 
gọi là cõi trời Vô Nhiệt.
Lại còn ở cõi nầy thì mọi người đều giống nhau chỉ khác nhau 
về tên gọi và ý nghĩ..., nên đặt ra mà nói năng..., và gọi là cõi trời Vô 
nhiệt.
- Thế nào là cõi trời Thiện Hiện?
Đáp: Nghĩa là ở cõi trời Thiện Hiện thì mọi người đều như một, là 
bạn bè thân thích cùng chung số phần sống như nhau, cùng nương nhờ 
sự việc nơi ở đều giống nhau. Lại nếu sinh vào cõi trời Thiện Hiện thì 
hết thảy sắc thọ tưởng hành thức đều vô phú vô ký. Lại nữa, vì là cõi 
trời Thiện Hiện nên đối với khổ thì thấy là khổ, với tập diệt đạo cũng 
thấy rõ là tập diệt đạo. Lại nữa, vì là cõi trời Thiện Hiện nên người ở đó 
có hình sắc rất đẹp đẽ tuyệt diệu, thanh tịnh uy nghiêm mọi người đều 
thích nhìn ngắm, đẹp đẽ hơn cả hai cõi trời Vô Phiền, Vô Nhiệt nhiều, 
nên gọi là Thiện Hiện. Lại còn ở cõi nầy thì mọi người đều giống nhau. 
Chỉ khác nhau về tên gọi và ý nghĩ... Nên đặt ra mà nói năng và gọi là 
cõi trời Thiện Hiện.
- Thế nào là cõi trời Thiện Kiến?

===== PAGE 231 =====
SỐ 1536 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA TẬP DỊ MÔN TÚC - Quyển 14 231
Đáp: Nghĩa là ở cõi trời Thiện kiến thì mọi người đều như một, là 
bạn bè thân thích cùng chung số phần sống như nhau cùng nương nhờ sự 
việc nơi ở đều giống nhau. Lại nếu sinh vào cõi đó thì hết thảy sắc thọ 
tưởng hành thức đều vô phú vô ký. Lại còn, vì là cõi trời Thiện kiến nên 
đối với khổ thì thấy là khổ, với tập diệt đạo cũng thấy rõ là tập diệt đạo. 
Lại nữa vì là Thiện kiến nên người ở cõi đó hình sắc chuyển đổi (trở 
nên) đẹp đẽ tuyệt diệu, rất thanh tịnh oai nghiêm, mọi người đều rất 
thích nhìn ngắm, ở đây còn hơn cả ba cõi Vô Phiền, Vô nhiệt và Thiện 
hiện nhiều, nên gọi là Thiện kiến. Lại còn ở cõi nầy thì mọi người đều 
giống nhau, chỉ khác nhau về tên gọi và các ý nghĩ..., nên đặt ra và nói 
năng và gọi là cõi trời Thiện Kiến.
- Thế nào là cõi trời Sắc Cứu Cánh?
Đáp: Nghĩa là ở cõi trời Sắc Cứu Cánh thì mọi người đều như một, 
là bạn bè thân thích cùng chung số phần sống như nhau cùng nương nhờ 
sự việc nơi ở đều giống nhau. Lại nếu sinh vào cõi đó thì các thứ sắc thọ 
tưởng hành thức đều vô phú vô ký. Lại còn vì là cõi trời Sắc Cứu Cánh 
nên đối với Khổ thì thấy là Khổ, thấy Tập Diệt Đạo cũng thấy rõ là Tập 
Diệt Đạo. Lại nữa vì là cõi Sắc Cứu Cánh thiện nên có được tự thể là 
đối với cái sắc đẹp đẽ thì thuộc vào hàng cao quý bậc nhất nên gọi là 
Sắc Cứu Cánh. Cõi nầy cũng gọi là Ngại Cứu Cánh thiên. Ngại nghĩa 
là có ngại vi có thân nhưng đây là chỗ có thân ngại rốt ráo tốt đẹp nhất, 
nên gọi là Ngại Cứu Cánh thiên. Lại còn, ở cõi nầy thì mọi người đều 
giống nhau chỉ khác về tên gọi và các ý nghĩ nên đặt ra và nói năng và 
gọi là cõi trời Sắc Cứu Cánh hoặc là cõi trời Ngại cứu cánh. Đó là cõi 
Sắc Cứu Cánh thiên hoặc Ngại Cứu Cánh thiên.
Có năm lĩnh vực xuất ly: Những gì là năm?
1. Quý thầy nên biết! Có các hàng đệ tử Phật đa văn có sự thấy 
biết rất tinh tế nhạy bén. Như khi nghĩ về các dục thì tâm đối với các 
dục không đi sâu vào, không thích thú tin ưa, không sống trong đó, 
không hay biết chi cả mà co lại, lại không dám đuổi theo nó, từ chối 
buông bỏ tất cả, ghê tởm khinh bỉ, chế ngự các sai trái. Cũng giống các 
sợi gân hay lông chim co rút lại khi bị đốt cháy vậy. Những hàng đệ tử 
Phật đa văn có sự thấy biết nhanh nhạy tinh tường nên đối với các dục 
thì tâm không chạy theo nó. Nhưng khi nghĩ đến sự xuất ly vượt thoát 
ra ba cõi thì lòng tin tưởng vui vẻ thâm nhập ngay vào, an trụ trong đó, 
có hiểu biết rõ, không hề co lại mà thoải mái ung dung, lòng không 
chán ghét mà tháo vác lanh lợi tâm luôn an lạc dễ dàng thuận lợi cho 
việc tu tập. Đối với các điều kiện của dục khởi lên các lậu hoặc gây 

===== PAGE 232 =====
232 BỘ TỲ ĐÀM 1
nên bao tổn hại đau buồn thì họ đều giải thoát cả. Từ chỗ xa lìa dục mà 
giải thoát mọi trói buộc thì không còn tiếp nhận các thọ nhận của các 
nhân duyên của chúng nữa. Như thế gọi là Dục xuất ly. Đối với giận dữ 
không còn giận dữ nữa với tàn hại cũng không tàn hại nữa, đối các sắc 
là không sắc. Phải nên biết như thế.
2. Quý thầy nên biết! Có các hàng đệ tử Phật đa văn (học rộng) 
có sự thấy biết rất nhạy bén tinh tường như khi nghĩ về sự hiện hữu của 
thân, thì đối với thân tâm không hề vui vẻ tin tưởng hưởng ứng thâm 
nhập vào, không sống trong đó, không hề hay biết chi cả, mà co lại 
chẳng dám đuổi theo nó, từ chối, buông bỏ tất cả, ghê tởm, khinh bỉ, 
chế ngự các sai trái. Co rút lại giống như các sợi gân hay lông chim khi 
bị đốt cháy. Các đệ tử của Phật đa văn, có sự thấy biết tinh tường đối 
với ý nghĩ về sự có thân thì không ham chạy theo nó. Nhưng khi nghĩ 
về chấm dứt sự có thân để được Niết-bàn thì lòng tin tưởng vui vẻ thâm 
nhập và an trụ vào ngay, có hiểu biết rõ không còn co lại mà thư thái 
ung dung, lòng không còn chán ghét mà tháo vác lanh lợi. Tâm luôn an 
lạc, dễ dàng thuận lợi cho việc tu tập. Khi các duyên của việc có thân 
khởi lên các lậu, gây bao tổn hại đau buồn thì đều được giải thoát cả. 
Kể từ khi khởi lên sự xa lìa các trói buộc để được giải thoát thì không 
còn tiếp nhận các thọ nhận của các nhân duyên của chúng nữa. Như thế 
gọi là sự xuất ly của có thân.
- Ở đây nói về sự hiện hữu thì chỉ cho người có tên họ đó, giống 
loại đó có ăn uống, có nhận biết khổ vui, có đời sống, có sống chết... 
thì gọi là các hữu.
- Đa văn, nghĩa được nghe nhiều chánh pháp, tức là Khế kinh gồm 
nhiều loại như Ứng tụng, Ký biệt, Kệ tụng, Tự nói, Nhân duyên, Thí dụ, 
Bổn sự, Bổn sinh, Phương quảng, Pháp hiếm có (vị tằng hữu), Nghị luận 
v.v... nghe các pháp đó nên gọi là đa văn.
- Đệ tử các Thánh. Thánh đây chính là chư Phật, đệ tử Phật thì gọi 
là đệ tử Thánh. Những ai đã quy y Phật, Pháp, Tăng, tất cả đều được 
gọi là đệ tử của Thánh.
- Hàng đệ tử Phật có sự thấy biết tinh tường nhạy bén. Thế nào là 
tinh tường nhạy bén? Đó là tròn đủ vào hàng thượng phẩm.
Thế nào là sự thấy biết (kiến)? Đó là nương vào pháp thiện được 
phát sinh do xuất ly (giải thoát) xa lìa từ bỏ. Đối với sự tuyển chọn càng 
tuyển chọn kỹ càng..., rộng nói cho đến Tỳ-bát-xá-na... Nên gọi là sự 
thấy biết.
- Như khi nghĩ đến các dục. Các dục là sao? Dục cũng gọi là các 

===== PAGE 233 =====
SỐ 1536 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA TẬP DỊ MÔN TÚC - Quyển 14 233
dục, cũng gọi là các dục, năm cảnh dục lạc hơn hết cũng gọi là các dục. 
Nghĩa đây nói là về năm cảnh dục lạc hơn hết gọi là các dục. Do đó nên 
nói khi nghĩ đến các dục, lòng không vui thích tin tưởng thâm nhập vào 
đó mà là an trụ hiểu biết, nghĩa là đối với các cảnh dục lạc hơn hết đó, 
các đệ tử Phật khi coi sự khen ngợi tán dương cùng mọi tác ý tra, suy 
xét, thì không khởi tâm tùy thuận đeo đuổi nó và cũng chẳng tin tưởng, 
ước muốn theo nó hay chú ý hiểu biết đã hiểu biết và sẽ hiểu biết rõ. 
Do đó nên nói là đối với các dục thì tâm vui vẻ tin tưởng thâm nhập an 
trụ và hiểu biết, mà co lại chẳng duỗi theo nó, là đối với các dục lạc hơn 
hết đó, các đệ tử Phật coi sự khen ngợi tác ý suy tư tìm xét thì đều từ 
chối buông bỏ tất cả chúng, lại chán ghét khinh bỉ ghê tởm, quyết điều 
phục đi ngược, nên nói là trụ vào chỗ buông bỏ chán ghét chê bai ghê 
tởm và quyết điều phục, đi ngược, như xuất ly.
- Xuất ly là sao? Xuất ly cũng gọi là xuất ly cõi xuất ly cũng gọi là 
xuất ly, căn thiện cõi Sắc, cũng gọi là xuất ly. Sơ thiền cũng gọi là xuất 
ly. Nay ở đây ý nói về sơ thiền gọi là xuất ly. Do đó nên nói khi nghĩ 
đến xuất ly, thì đối sự xuất ly tâm liền thâm nhập sâu xa.
- Vui vẻ, tin tưởng an trụ và có hiểu biết, là các đệ tử Phật đối sự 
xuất ly nầy vì hiểu biết rõ khi cùng tác ý suy tư tìm xét thì liền sinh tâm 
tùy thuận đeo đuổi và tin tưởng ước muốn theo nó, hay chú ý hiểu biết, 
đã hiểu biết và sẽ hiểu biết rõ. Do đây cho nên nói đối với sự xuất ly thì 
tâm vui vẻ, tin tưởng thâm nhập sâu vào và an trụ ở đó.
- Có hiểu biết, đã không co lại mà thư thái ung dung, nghĩa là các 
đệ tử Phật đối với sự xuất ly, coi sự khen ngợi khi cùng khởi ý tìm xét 
suy tư, thì đều khởi tâm vui vẻ an trụ và hướng về thâm nhập vào, nên 
nói là chẳng co lại mà thư thái ung dung.
- Tâm chẳng chán ghét mà tháo vác lanh lợi, là các đệ tử Phật đối 
với sự xuất ly nầy mà khen ngợi cùng làm và khi khởi ý suy xét tìm hiểu 
thì không phải như đối với dục, tâm không thích trụ vào đó mà lại chán 
ghét, khinh bỉ ghê tởm, và quyết điều phục đi ngược. Do đó nên nói tâm 
chẳng chán ghét mà tháo vác lanh lợi.
- Tâm luôn an lạc, là các đệ tử Phật ngay lúc ấy tâm họ rất an lạc, 
không cực nhọc hao tổn nên không mỏi mệt. Do đó nên nói tâm rất an 
lạc.
- Dễ dàng tu tập, là các đệ tử Phật ngay lúc ấy luôn luôn tu tập, 
luôn luôn tác ý tương ưng với sự tu tập nên gọi là dễ dàng tu tập.
- Khéo giỏi tu tập, là các đệ tử Phật ngay lúc đó vì có đủ các thứ 
nhân, pháp môn, chánh lý và đạo hạnh mà ân cần tôn trọng tu tập, kiên 

===== PAGE 234 =====
234 BỘ TỲ ĐÀM 1
trì bền bỉ tu tập, cung kính tu tập, tác ý tu tập. Nên gọi là giỏi tu tập.
- Đối với các điều kiện nổi dậy lậu, gây bao tổn hại thì đều được 
giải thoát là từ khi khởi lên việc lìa bỏ sự ràng buộc mà được giải thoát, 
thì các đệ tử Phật, do nhân duyên nầy nên tâm luôn được giải thoát. Kể 
từ khi lìa bỏ các ràng buộc nên được giải thoát. Do đó nên nói đối với 
các dục, làm điều kiện khởi lên các lậu, gây bao tổn hại, đều được giải 
thoát khỏi chúng.
- Chẳng tiếp nhận các nhận biết của các nhân duyên ấy, là đối với 
các lậu nếu chưa đoạn dứt chưa biết khắp thì sẽ nhận lấy các khổ não. 
Còn như đã đoạn dứt đã biết khắp rồi thì chẳng còn nhận các thọ khổ 
nữa. Do đó nên nói chẳng tiếp nhận các thọ của nhân duyên ấy nữa. 
Như thế gọi là đối với dục đã xuất ly.
Nay ở trong đây cái gì được gọi là xuất ly? Đoạn dứt hẳn các dục 
cũng gọi là xuất ly, vượt qua các cõi Dục cũng gọi là xuất ly, lìa bỏ cõi 
trần tục cũng gọi là xuất ly, căn thiện cõi Sắc cũng gọi là xuất ly, Sơ 
thiền cũng gọi là xuất ly. Nay ở đây ý nói Sơ thiền gọi là xuất ly.
- Đối với giận dữ không giận dữ.
Giận dữ là sao? Giận dữ cũng gọi là giận dữ, cảnh giới giận dữ 
cũng gọi là giận dữ. Trong đây ý nói là lĩnh vực giận dữ gọi là giận 
dữ.
Không giận dữ là sao? Không giận dữ cũng gọi là không giận dữ, 
lĩnh vực không giận dữ cũng gọi là không giận dữ, định từ tâm cũng 
gọi là không giận dữ. Nay nghĩa trong đây ý nói tâm từ ổn định gọi là 
không giận dữ.
- Đối với tàn hại không tàn hại.
Tàn hại là sao? Hại cũng gọi là hại, lĩnh vực tàn hại cũng gọi là 
tàn hại. Nay nghĩa trong đây ý nói lĩnh vực tàn hại gọi là tàn hại.
Không tàn hại là sao? Không tàn hại cũng gọi là không tàn hại, 
lĩnh vực không tàn hại cũng gọi là không tàn hại, tâm bi ổn định cũng 
gọi là không tàn hại. Nay nghĩa trong đây ý nói tâm bi ổn định là không 
tàn hại.
- Đối với sắc là không sắc.
Sắc là sao? Sắc cũng gọi là sắc, lĩnh vực sắc, cũng gọi là sắc, tứ 
thiền cũng gọi là sắc. Nay nghĩa trong đây ý nói Tứ thiền là sắc.
Không sắc là sao? Không sắc cũng gọi là không sắc, bốn thứ không 
sắc cũng gọi là không sắc. Nay nghĩa trong đây ý nói bốn thứ không sắc 
gọi là không sắc.
- Có các đệ tử Phật đa văn có sự thấy biết rất tinh tường nhạy bén, 

===== PAGE 235 =====
SỐ 1536 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA TẬP DỊ MÔN TÚC - Quyển 14 235
thì như trước đã nói rồi.
- Như nghĩ về có thân, thì có thân cũng gọi là có thân, năm thủ 
uẩn cũng gọi là có thân. Nay nghĩa trong đây ý nói năm thủ uẩn gọi là 
có thân.
- Liền đối với sự có thân, tâm chẳng hướng nhập vào v.v... như 
trước đã nói về dục.
- Nếu nghĩ về việc chấm dứt có thân, thì có thân diệt mất cũng gọi 
là diệt, trạch diệt, cũng gọi là diệt. Nay nghĩa trong đây ý nói Trạch diệt 
gọi là diệt chẳng phải gì khác.
-------------
Chú thích:
Theo chú thích ở cuối trang thì quyển nầy (14) cả bốn bản Tống 
- Nguyên - Minh - Cung vua..., đều không có.
Ở trên lại ghi: Quyển nầy bản đời Tống ở trang (bức) thứ 8, hàng 
thứ 89 nói là: Có khởi ý sinh về cõi trời thuộc Sắc giới đó (phần dưới 
liền nói) khi chết rồi, ở cõi trời thuộc Sắc giới ấy... (cho đến trang thứ 
9 cả 5 hàng) Bổ-đặc-già-la. Lại nữa, (ở dưới có nói) đã vãng sinh vào 
cõi Sắc... (cho đến trang thứ 11, hàng thứ 7) nghiệp thân sinh dị thục (ở 
dưới có nói). Sau đó có lời nói ấy v.v...
Ba tiết đoạn như thế, văn nghĩa dứt gọn không liên hệ gì nhau. 
Nay kiểm tra hai bản, thì thấy bản đời Tống lầm đem Sinh dị thục ng -
hiệp thân xuống dưới phần: Hoại mạng chung Bỉ Sắc giới thiên cho đến 
Bổ-đặc-già-la Phục v.v...
Có đoạn văn trên 34 hàng viết: Bỉ Sắc giới thiên trung hữu khởi 
“ở dưới” Kiếp tương trung hữu khởi “phần dưới” dĩ vãng sinh Sắc giới 
“rồi mới” Sinh dị thục nghiệp thân v.v... và đoạn văn lùi 34 hàng mà ghi 
Bổ-đặc-già-la, Phục “ở dưới Chí linh như thị”. Nay y vào hai bổn tiến 
thoái mà sửa cho đúng.
Ở trang thứ 12 nguyên cả 6 hàng: Thiện hiện Thiền trung Sở hữu 
vô (chi la). Bổn trong cung (quốc) và bên đời Tống đều nói là “Thoát 
Phúc vô ký” cho đến “Tiện chăng chư dục tâm” v.v... gồm có đoạn văn 
35 hàng. Nay y theo riêng một bản là đủ (hết chú thích).


===== PAGE 236 =====
236 BỘ TỲ ĐÀM 1
LUẬN A TỲ ĐẠT MA TẬP DỊ MÔN TÚC