A-tỳ-đạt-ma Tập Dị Môn Túc Luận · Quyển 15
阿毘達磨集異門足論 · T1536
Hán văn
尊者舍利子說 三藏法師玄奘奉 詔譯 7 六法品 六法品第七之一 時舍利子復告眾言:「具壽當知,佛於六法自 善通達,現等覺已,為諸弟子宣說開示。我等 今應和合結集,佛滅度後勿有乖諍,當令隨 順梵行法律久住,利樂無量有情,哀愍世間 諸天人眾,令獲殊勝義利安樂。」 六法云何?此 中有二嗢柁南頌。初嗢柁南曰: 初六法十種,謂內外識觸, 及受想思愛,退不退各六。 有六內處、六外處、六識身、六觸身、六受身、 六想身、六思身、六愛身、六順退法、六順不退 法。 六內處者,云何為六?答:一、眼內處;二、耳內 處;三、鼻內處;四、舌內處;五、身內處;六、意內 處。云何眼內處?答:若眼於色或已見、或今見、 或當見,或彼同分,是名眼內處。耳、鼻、舌、身、意 內處,隨所應,當廣說。 六外處者,云何為六?答:一、色外處;二、聲外處; 三、香外處;四、味外處;五、觸外處;六、法外處。云 何色外處?答:若色為眼或已見、或今見、或當 見,或彼同分,是名色外處。聲、香、味、觸、法外處, 隨所應,當廣說。 六識身者,云何為六?答:一、眼識身;二、耳識身; 三、鼻識身;四、舌識身;五、身識身;六、意識身。云 何眼識身?答:眼及諸色為緣生眼識,此中眼 為增上、色為所緣,於眼所識色諸了別性、極 了別性、了別色性,是名眼識身。耳、鼻、舌、身、意 識身,隨所應,當廣說。 六觸身者,云何為六?答:一、眼觸身;二、耳觸身; 三、鼻觸身;四、舌觸身;五、身觸身;六、意觸身。云 何眼觸身?答:眼及諸色為緣生眼識,三和合 故觸。此中眼為增上、色為所緣,於眼所識色, 諸觸等觸等觸性、已觸當觸,是名眼觸身。耳、 鼻、舌、身、意觸身,隨所應,當廣說。 六受身者,云何為六?答:一、眼觸所生受身;二、 耳觸所生受身;三者、鼻觸所生受身;四、舌觸 所生受身;五、身觸所生受身;六、意觸所生受 身。云何眼觸所生受身?答:眼及諸色為緣生 眼識,三和合故觸,觸為緣故受。此中眼為增 上、色為所緣、眼觸為因,眼觸等起、眼觸種類、 眼觸所生、眼觸所起作意相應,於眼所識色 諸受等受別受、已受當受,是名眼觸所生受 身。耳、鼻、舌、身、意觸所生受身,隨所應,當廣說。 六想身者,云何為六?答:一、眼觸所生想身;二、 耳觸所生想身;三、鼻觸所生想身;四、舌觸所 生想身;五、身觸所生想身;六、意觸所生想身。 云何眼觸所生想身?答:眼及諸色為緣生眼 識,三和合故觸,觸為緣故想。此中眼為增上, 色為所緣,眼觸為因,眼觸等起、眼觸種類、眼 觸所生、眼觸所起作意相應,於眼所識色諸 想等想、現前等想、已想當想,是名眼觸所生 想身。耳、鼻、舌、身、意觸所生想身,隨所應,當廣 說。 六思身者,云何為六?答:一、眼觸所生思身;二、 耳觸所生思身;三、鼻觸所生思身;四、舌觸所 生思身;五、身觸所生思身;六、意觸所生思身。 云何眼觸所生思身?答:眼及諸色為緣生眼 識,三和合故觸,觸為緣故思。此中眼為增上、 色為所緣、眼觸為因,眼觸等起、眼觸種類、眼 觸所生、眼觸所起作意相應。於眼所識色,諸 思等思、現前等思、已思當思,作心意業,是名 眼觸所生思身。耳、鼻、舌、身、意觸所生思身,隨 所應,當廣說。 六愛身者,云何為六?答:一、眼觸所生愛身;二、 耳觸所生愛身;三、鼻觸所生愛身;四、舌觸所 生愛身;五、身觸所生愛身;六、意觸所生愛身。 云何眼觸所生愛身?答:眼及諸色為緣生眼 識,三和合故觸,觸為緣故受,受為緣故愛。此 中眼為增上、色為所緣,於眼所識色,諸貪等 貪執藏防護耽著愛樂,是名眼觸所生愛身。 耳、鼻、舌、身、意觸所生愛身,隨所應,當廣說。 六順退法者,云何為六?答:一、於佛不恭敬住; 二、於法不恭敬住;三、於僧不恭敬住;四、於學 不恭敬住;五、具惡言;六、遇惡友。於佛不恭敬 住者,云何於佛不恭敬性?答:於佛世尊諸不 恭敬性、不等恭敬性、不與自在性、不等與自 在性,是名於佛不恭敬性。於法、於僧、於學亦 爾。具惡言者,云何惡言性?答:如前惡語說。遇 惡友者,云何惡友性?答:如前惡友說。 六順不退法者,云何為六?答:一、於佛有恭敬 住;二、於法有恭敬住;三、於僧有恭敬住;四、於 學有恭敬住;五、具善言;六、遇善友。於佛有恭 敬住者,云何於佛有恭敬性?答:於佛世尊諸 恭敬性,有恭敬性、有與自在性、有怖隨自在 轉性,是名於佛有恭敬性。於法、於僧、於學亦 爾。具善言者,云何善言性?答:如前善語說。遇 善友者,云何善友性?答:善友謂佛及佛弟子, 廣說乃至行遠離癡、調伏癡行,是名善友性。 若於如是善友,諸習近等習近、親近等親近、 恭敬承事,是名遇善友。後嗢柁南曰: 後六有十四,謂喜憂捨恒, 界出根喜通,明念上觀類。 有六喜近行、六憂近行、六捨近行、六恒住、 六界、六出離界、六諍根法、六可喜法、六通、 六順明分想、六隨念、六無上法、六觀待、六生 類。 六喜近行者,云何為六?答:一、眼見色已順喜 處色近行;二、耳聞聲已順喜處聲近行;三、鼻 嗅香已順喜處香近行;四、舌嘗味已順喜處 味近行;五、身覺觸已順喜處觸近行;六、意了 法已順喜處法近行。眼見色已順喜處色近 行者,謂眼見色已,於一向可愛、一向可樂、一 向可欣、一向可意色,以順喜處作意思惟。若 於此色由順喜處作意思惟所生喜受,是名 眼見色已順喜處色近行。耳、鼻、舌、身、意喜近 行亦爾。 六憂近行者,云何為六?答:一、眼見色已順憂 處色近行;二、耳聞聲已順憂處聲近行;三、鼻 嗅香已順憂處香近行;四、舌嘗味已順憂處 味近行;五、身覺觸已順憂處觸近行;六、意了 法已順憂處法近行。眼見色已順憂處色近 行者,謂眼見色已,於一向不可愛、一向不可 樂、一向不可欣、一向不可意色,以順憂處作 意思惟。若於此色由順憂處作意思惟所生 憂受,是名眼見色已順憂處色近行。耳、鼻、舌、 身、意憂近行亦爾。 六捨近行者,云何為六?答:一、眼見色已順捨 處色近行;二、耳聞聲已順捨處聲近行;三、鼻 嗅香已順捨處香近行;四、舌嘗味已順捨處 味近行;五、身覺觸已順捨處觸近行;六、意了 法已順捨處法近行。眼見色已順捨處色近 行者,謂眼見色已,於非可愛非不可愛、非可 樂非不可樂、非可欣非不可欣、非可意非不 可意色,以順捨處作意思惟。若於此色由順 捨處作意思惟所生捨受,是名眼見色已順 捨處色近行。耳、鼻、舌、身、意捨近行亦爾。 六恒住者,云何為六?答:一、眼見色已不喜不 憂具念正知恒安住捨;二、耳聞聲已不喜不 憂具念正知恒安住捨;三、鼻嗅香已不喜不 憂具念正知恒安住捨;四、舌嘗味已不喜不 憂具念正知恒安住捨;五、身覺觸已不喜不 憂具念正知恒安住捨;六、意了法已不喜不 憂具念正知恒安住捨。眼見色已不喜不憂 具念正知恒安住捨者,謂眼見色於可愛不 可愛、可樂不可樂、可欣不可欣、可意不可意, 或所依止、或等無間、或所緣、或處所、或增上 色,以順捨處作意思惟。若於此色由順捨處 作意思惟所生妙捨,是名眼見色已不喜不 憂具念正知恒安住捨。耳、鼻、舌、身、意恒住亦 爾。問:此中捨者何所謂耶?答:心平等性、心正 直性、心無驚覺任運住性,應知此中說名為 捨。復次有說,六識相應緣色聲香味觸法境 捨受名捨。今此義中應知意說心平等性、心 正直性、心無驚覺任運住性,行捨名捨。 六 界者,云何為六?答:一、地界;二、水界;三、火界;四、 風界;五、空界;六、識界。分別此六,如《法蘊論》。 六 出離界者,云何為六?答:一、有具壽作如是言: 「我於慈心定雖已習已修已多所作,而我心 猶為嗔所纏縛。」應告彼曰:「勿作是言。所以者 何?若有具壽於慈心定已習已修已多所 作,無處無容其心猶為嗔所纏縛。若心猶為 嗔所纏縛,無有是處。」謂慈心定必能出離一 切嗔縛。問:此中出離,何所謂耶?答:嗔縛永斷 亦名出離、超越嗔縛亦名出離、諸慈心定亦 名出離。今此義中意說慈心定名出離。二、有 具壽作如是言:「我於悲心定雖已習已修已 多所作,而我心猶為害所纏縛。」應告彼曰:「勿 作是言。所以者何?若有具壽於悲心定已習 已修已多所作,無處無容其心猶為害所纏 縛。若心猶為害所纏縛,無有是處。」謂悲心定 必能出離一切害縛。問:此中出離,何所謂耶? 答:害縛永斷亦名出離、超越害縛亦名出離、 諸悲心定亦名出離。今此義中意說悲心定名 出離。三、有具壽作如是言:「我於喜心定雖已 習已修已多所作,而我心猶為不樂纏縛。」應 告彼曰:「勿作是言。所以者何?若有具壽於喜 心定已習已修已多所作,無處無容,其心猶 為不樂纏縛。若心猶為不樂纏縛,無有是處。」 謂喜心定必能出離一切不樂。問:此中出離, 何所謂耶?答:不樂永斷亦名出離、超越不樂 亦名出離、諸喜心定亦名出離。今此義中意 說喜心定名出離。四、有具壽作如是言:「我於 捨心定雖已習已修已多所作,而我心猶為 欲貪嗔纏縛。」應告彼曰:「勿作是言。所以者何? 若有具壽於捨心定已習已修已多所作,無 處無容,其心猶為欲貪嗔纏縛。若心猶為欲 貪嗔纏縛,無有是處。」謂捨心定必能出離一 切欲貪嗔。問:此中出離,何所謂耶?答:欲貪嗔 永斷亦名出離、超越欲貪嗔亦名出離、諸捨 心定亦名出離。今此義中意說捨心定名出 離。五、有具壽作如是言:「我於無相心定雖已 習已修已多所作,而我心猶為隨相識纏縛。」 應告彼曰:「勿作是言。所以者何?若有具壽於 無相心定已習已修已多所作,無處無容,其 心猶為隨相識纏縛。若心猶為隨相識纏縛, 無有是處。」謂無相心定必能出離一切隨相 識。問:此中出離,何所謂耶?答:隨相識永斷亦 名出離、超越隨相識亦名出離、無相心定亦 名出離。今此義中意說無相心定名出離。六、 有具壽作如是言:「我雖遠離我慢、不觀見我 我所,而我心猶為疑猶豫箭纏縛損害。」應 告彼曰:「勿作是言。所以者何?若有具壽遠離 我慢、不觀見我我所,無處無容,其心猶為疑 猶豫箭纏縛損害。若心猶為疑猶豫箭纏縛 損害,無有是處。」謂遠離我慢、不觀見我我所 者必能出離一切疑猶豫箭。問:此中出離,何 所謂耶?答:我慢永斷亦名出離、超越我慢亦 名出離。今此義中意說超越諸慢名出離。 六諍根法者,云何為六?答:謂有一類有忿有 恨、若有忿恨,便於大師不能恭敬供養尊重 讚歎。若於大師不能恭敬供養尊重讚歎即 不見法,若不見法即不顧沙門,若不顧沙門 便起染著輕弄鬪諍。由起染著輕弄鬪諍為 所依止令多眾生無義無利受諸苦惱,由此 能引無量天人無義無利諸苦惱事。如是諍 根汝等若見,或內或外有所未斷,即應聚集 和合精勤方便求斷無得放逸。汝等應使如 是諍根無餘斷滅,如先未起如是諍根。汝等 若見或內或外皆悉已斷,即應發起正念正 知猛利之心精勤防護,令當來世永不復起, 是為正斷善斷諍根。如有忿恨、若有覆惱、若 有嫉慳、若有誑諂、若有邪見倒見,廣說亦爾。 復有一類取著自見,起堅固執難教棄捨。若 取著自見起堅固執難教棄捨,便於大師不 能恭敬供養尊重讚歎。若於大師不能恭敬 供養尊重讚歎即不見法,若不見法即不顧 沙門,若不顧沙門便起染著輕弄鬪諍,由起 染著輕弄鬪諍為所依止令多眾生無義無利 受諸苦惱,由此能引無量天人無義無利諸苦 惱事。如是諍根,汝等若見或內或外有所未 斷,即應聚集和合精勤方便求斷無得放逸。 汝等應使如是諍根無餘斷滅,如先未起如是 諍根。汝等若見或內或外皆悉已斷,即應發 起正念正知猛利之心精勤防護,令當來世永 不復起,是為正斷善斷諍根。有忿有恨、若有 覆惱、若有嫉慳、若有誑諂,如是一切皆如前 說。有邪見倒見者,云何邪見?答:諸所有見,無 施與、無祠祀、無愛樂,廣說乃至無自覺知我 生已盡、梵行已立、所作已辦、不受後有,是名 邪見。言倒見者,謂即邪見,所見顛倒。取著自 見起堅固執難教棄捨者,云何取著自見?答: 執我及世間常,唯此諦實餘皆愚妄,廣說乃 至執如來死後非有非非有,唯此諦實餘皆 愚妄,是名取著自見。云何起堅固執?答:即由 取著自見,是故起堅執。云何難教棄捨?答:由 於自見起愛樂、等愛樂、現前愛樂,是故難教 厭離解脫。 六可喜法者,云何為六?答:若有苾芻,於大師 所及諸有智同梵行者起慈身業,是名第一 可喜法。由此法故能發可愛、能發尊重、能發 可意,能引可愛尊重可意悅意,攝受歡喜無 違無諍一趣。復有苾芻,於大師所及諸有智 同梵行者起慈語業,是名第二可喜法。由此 法故能發可愛,廣說乃至無諍一趣。復有苾 芻,於大師所及諸有智同梵行者起慈意業, 是名第三可喜法。由此法故能發可愛,廣說 乃至無諍一趣。復有苾芻,以法獲得如法利 養,下至鉢中所受飲食,於此利養與諸有智 同梵行者等共受用不別藏隱,是名第四可 喜法。由此法故能發可愛,廣說乃至無諍 一趣。復有苾芻,諸所有戒無缺無隙無雜無 穢、應供無執善究竟善,受取諸有智者稱讚 無毀,於如是戒與諸有智同梵行者等共受 持無所藏隱,是名第五可喜法。由此法故能 發可愛,廣說乃至無諍一趣。復有苾芻,諸所 有見是聖出離能善通達,若起作彼能正盡 苦,於如是見與諸有智同梵行者等共修學 無所藏隱,是名第六可喜法。由此法故能發 可愛、能發尊重、能發可意,能引可愛尊重可 意悅意,攝受歡喜無違無諍一趣。於大師所 者,云何大師?答:一切如來、應、正等覺,說名大 師。及諸有智同梵行者,云何有智同梵行者? 答:解憍陳那乃至廣說,是名有智同梵行者。 起慈身業者,云何慈身業?答:興起俱行哀愍 俱行所有身業,此中意說名慈身業。於大師 所及諸有智同梵行者,此慈身業和合現前, 由斯故說於大師所及諸有智同梵行者起慈 身業是名第一可喜法者。謂如是法是能隨 順甚可愛樂,長養端嚴應供常委支具資糧, 是故名可喜法。能發可愛者,謂由此法能發 可愛。能發尊重者,謂由此法能發尊重。能發 可意者,謂由此法能發可意。能引可愛尊重 可意悅意攝受歡喜無違無諍一趣者,謂由 此法能引可愛尊重可意悅意攝受歡喜無違 無諍一趣。此中攝受謂令和合。言一趣者,謂 趣一境一味現前。如慈身業,慈語意業應知 亦爾。以法獲得如法利養者,云何以法獲得 如法利養?答:若諸利養不由矯妄而得、不由 詭詐而得、不由現相而得、不由激發而得、不 由以利求利而得,然受用時無罪生長,故名 以法獲得如法利養。下至鉢中所受飲食者, 謂下至墮鉢中飲食尚共受用,況餘財物。於 此利養與諸有智同梵行者等共受用不別 藏隱者,謂以法獲得如法利養,是名於此利 養。若苾芻、苾芻尼、正學、勤策、勤策女、近事、近 事女,是名有智同梵行者。以法所得如法利 養,應與有智同梵行者等共受用不應各別 藏隱受用,是名第四可喜法等,如前廣說。諸 所有戒者,云何名為諸所有戒?答:無漏身業 語業及命清淨,一切皆名諸所有戒。無缺無 隙無雜無穢者,謂於此戒恒隨作恒隨轉、平 等共作平等共轉,故名無缺無隙無雜無穢。 言應供者,謂諸有情有貪嗔癡名為給使, 若諸有情離貪嗔癡名為應供,應受給使以 衣服飲食臥具醫藥等常供養故。言無執者, 謂聖弟子於戒不起若取若執。善究竟者,謂 於此戒善守善護至極究竟。善受取者,謂於 此戒殷重恭敬具足攝受。諸有智者稱讚無 毀者,謂諸佛及弟子名有智者,此諸智者皆 共稱讚、無訶毀者,由斯故說諸有智者稱讚 無毀。於如是戒與諸有智同梵行者等共受 持無所藏隱者,云何名為於如是戒?答:謂平 等戒。平等戒者,謂八聖道支中正語、正業、正 命名平等戒。與諸有智同梵行者,謂解憍陳 那等,皆名有智同梵行者。等共受持無所藏 隱者,謂於此戒與諸有智同梵行者,共一義 利、共一所趣,彼此相似,是名第五可喜法 等,如前廣說。諸所有見者,云何名為諸所有 見?答若依出離遠離所生善法,於諸法相諸 簡擇極簡擇,乃至廣說,如是名為諸所有見。 是聖出離等,如前廣說。於如是見與諸有智 同梵行者等共修學無所藏隱者,云何名為 於如是見?答:謂平等見。平等見者,謂八聖道 支中正見名平等見,餘如前說。如是亦名六 和敬法。 六通者,云何為六?一、神境智證通;二、天耳智 證通;三、他心智證通;四、宿住智證通;五、死生 智證通;六、漏盡智證通。云何神境智證通?答: 領受示現種種神境,乃至廣說,是名神境智 證通。問:此中通者,何所謂耶?答:於諸神境所 有妙智。云何天耳智證通?答:以天耳聞種種 音聲,謂人聲非人聲遠聲近聲等,是名天耳 智證通。問:此中通者,何所謂耶?答:於天耳境 所有妙智。云何他心智證通?答:於他有情補 特伽羅尋伺心等皆如實知,謂有貪心如實 知有貪心、離貪心如實知離貪心,如是有嗔 心離嗔心、有癡心離癡心、略心散心、下心舉 心、掉心不掉心、寂靜心不寂靜心、不定心定 心、不修心修心、不解脫心解脫心,皆如實知, 是名他心智證通。問:此中通者,何所謂耶?答: 於他心等所有妙智。云何宿住智證通?答:能 隨憶念過去無量諸宿住事,謂或一生,乃至 廣說,是名宿住智證通。問:此中通者,何所謂 耶?答:於諸宿住所有妙智。云何死生智證通? 答:如明廣說。云何漏盡智證通?答:亦如明廣 說。
Việt dịch
QUYỂN 15 Phẩm 7: SÁU PHÁP, Phần 1 Bấy giờ, Tôn giả Xá-lợi-tử lại bảo đại chúng: Quý thầy nên biết! Đức Phật đối với pháp sáu điều, chính Ngài hiểu biết rất rõ ràng thông suốt mọi lẽ, sau đó mới đem ra chỉ bày giảng dạy cho các đệ tử. Nay chúng ta nên hòa hợp mà kiết tập ôn lại, để sau khi Phật diệt độ thì không có sự tranh cãi nhau. Và chúng ta cần nên tu phạm hạnh và tuân hành luật pháp để làm lợi ích lâu dài cho vô lượng chúng hữu tình. Nên thương xót hàng trời người ở thế gian, khiến họ thâu nhận được nhiều lợi ích an lạc cao quý. Sáu pháp là gì? Trong đây có hai bài kệ tụng: Bài kệ (Ốt-đà-nam) thứ nhất nói: Một: Sáu pháp có mười Là nội, ngoạ, thức, xúc Và thọ, tưởng, tư, ái Thoái, chẳng thoái đều sáu. Gồm có: Sáu lĩnh vực bên trong, sáu lĩnh vực bên ngoài, sáu thức của thân, sáu xúc chạm của thân, sáu căn thọ của thân, sáu tưởng của thân, sáu tư của thân, sáu ái của thân, sáu pháp thuận thoái, sáu pháp không thuận thoái. Sáu lĩnh vực bên trong: 1. Lĩnh vực bên trong của mắt. 2. Lĩnh vực bên trong của tai. 3. Lĩnh vực bên trong của mũi. 4. Lĩnh vực bên trong của lưỡi. 5. Lĩnh vực bên trong của thân. 6. Lĩnh vực bên trong của ý. ===== PAGE 237 ===== SỐ 1536 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA TẬP DỊ MÔN TÚC - Quyển 15 237 Hỏi: Thế nào là lĩnh vực bên trong của mắt? Đáp: Như mắt đối với các sắc đã thấy, đang thấy và sẽ thấy, hoặc các thứ giống như nó thì gọi là lĩnh vực bên trong của mắt. Về các thứ lĩnh vực bên trong của tai, mũi, lưỡi, thân, ý cũng tùy chỗ mà trình bày thật rõ ràng. Sáu lĩnh vực bên ngoài: 1. Lĩnh vực sắc bên ngoài. 2. Lĩnh vực tiếng bên ngoài. 3. Lĩnh vực hương bên ngoài. 4. Lĩnh vực vị bên ngoài. 5. Lĩnh vực xúc chạm bên ngoài. 6. Lĩnh vực pháp bên ngoài. Hỏi: Thế nào là lĩnh vực sắc bên ngoài? Đáp: Nghĩa là sắc nào đã bị mất hoặc nhìn thấy, hiện đang nhìn thấy hay sẽ nhìn thấy hoặc những thứ giống như thế thì gọi là lĩnh vực bên ngoài của sắc. Về các thứ lĩnh vực ở ngoài của tiếng, hương, vị, xúc chạm, pháp thì nên tùy chỗ mà rộng nói. Sáu thức của thân: 1. Nhãn thức của thân. 2. Nhĩ thức của thân. 3. Tỷ thức của thân. 4. Thiệt thức của thân. 5. Thân thức của thân. 6. Ý thức của thân. Hỏi: Thế nào là nhãn thức của thân? Đáp: Mắt và các sắc làm điều kiện sinh ra nhãn thức. Trong đó mắt là tăng thượng (vai trò chính) còn sắc là đối tượng. Đối với sắc thì mắt nhận biết rõ các thứ về tánh liễu biệt, tánh rất liễu biệt và phân biệt rõ ràng về các tính chất của các sắc. Đó gọi là nhãn thức của thân. Còn các thứ thức của thân như: nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý thì nên tùy nơi mà trình bày kỹ. Sáu xúc của thân: 1. Nhãn xúc của thân. 2. Nhĩ xúc của thân. 3. Tỷ xúc của thân. 4. Thiệt xúc của thân. 5. Thân xúc của thân. ===== PAGE 238 ===== 238 BỘ TỲ ĐÀM 1 6. Ý xúc của thân. Hỏi: Thế nào là nhãn xúc của thân? Đáp: Mắt và các sắc làm điều kiện sinh ra nhãn thức. Ba cái đó hòa hợp nhau lại mà gọi là xúc (tiếp xúc). Ở đây mắt là chủ thể nhận biết, sắc là đối tượng được nhận biết). Khi mắt nhận biết các sắc thì đối tượng phải có những tiếp xúc cùng tiếp xúc, tính chất của tiếp xúc..., đã tiếp xúc và đang tiếp xúc. Đó gọi là mắt là cái để thân tiếp xúc. Còn về các thứ để thân tiếp xúc như nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý thì tùy chỗ trình bày kỹ. Sáu thứ nhận biết (thọ) của thân: 1. Mắt tiếp xúc khiến thân nhận biết. 2. Tai tiếp xúc khiến thân nhận biết. 3. Mũi tiếp xúc khiến thân nhận biết. 4. Lưỡi tiếp xúc khiến thân nhận biết. 5. Thân tiếp xúc khiến thân nhận biết. 6. Ý tiếp xúc khiến thân nhận biết. Hỏi: Thế nào là mắt tiếp xúc khiến thân nhận biết? Đáp: Mắt và các sắc làm điều kiện sinh ra nhãn thức. Ba thứ hòa hợp lại gọi là xúc. Xúc là điều kiện nên có nhận biết (thọ). Trong đây mắt là tăng thượng (quan trọng nhất, chủ động), các sắc là đối tượng, sự tiếp xúc của mắt làm nhân sự tiếp xúc của mắt hoạt động (khởi) giống loại của mắt tiếp xúc sinh ra của nhãn xúc. Khi sự tiếp xúc của mắt hoạt động mà có sự tương ưng với ý nghĩ, có ý thức (tác ý) thì khi mắt nhận biết các sắc sẽ có được các thọ (sự cảm xúc nhận biết) các thọ ở hiện tại, ở quá khứ và ở vị lai. Thế nên gọi mắt tiếp xúc khiến thân nhận biết. Đối với các thứ tiếp xúc khiến thân nhận biết về nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý thì nên tùy chỗ mà trình bày kỹ. Sáu thứ tưởng của thân: 1. Mắt tiếp xúc sinh ra tưởng của thân. 2. Tai tiếp xúc sinh ra tưởng của thân. 3. Mũi tiếp xúc sinh ra tưởng của thân. 4. Lưỡi tiếp xúc sinh ra tưởng của thân. 5. Thân tiếp xúc sinh ra tưởng của thân. 6. Ý tiếp xúc sinh ra tưởng của thân. Hỏi: Thế nào là mắt tiếp xúc sinh ra tưởng của thân? Đáp: Mắt và các sắc làm điều kiện sinh ra nhãn thức. Cả ba thứ hòa hợp lại gọi là xúc. Xúc làm điều kiện nên có tưởng. Ở đây mắt là ===== PAGE 239 ===== SỐ 1536 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA TẬP DỊ MÔN TÚC - Quyển 15 239 tăng thượng sắc là đối tượng. Sự tiếp xúc của mắt làm nhân, sự tiếp xúc của mắt hoạt động, các giống loại của nhãn xúc, sự sinh ra của nhãn xúc. Khi nhãn xúc hoạt động thì có tác ý (có ý thức, ý nghĩ) tương ưng, nên khi mắt nhận biết các sắc thì có các tưởng hoạt động. Các tưởng trong hiện tại, các tưởng đã qua và các tưởng sắp tới. Thế nên gọi là mắt tiếp xúc sinh ra các tưởng của thân. Đối với các thứ tiếp xúc sinh ra các tưởng của thân và tai, mũi, lưỡi thân ý thì tùy chỗ mà trình bày kỹ. Sáu thứ tư (tư duy) của thân: 1. Mắt tiếp xúc sinh ra các tư của thân. 2. Tai tiếp xúc sinh ra tư của thân. 3. Mũi tiếp xúc sinh ra tư của thân. 4. Lưỡi tiếp xúc sinh ra tư của thân. 5. Thân tiếp xúc sinh ra tư của thân. 6. Ý tiếp xúc sinh ra tư của thân. Hỏi: Thế nào là mắt tiếp xúc sinh ra tư của thân? Đáp: Mắt và các sắc làm điều kiện sinh ra nhãn thức. Cả ba thứ hòa hợp lại gọi là xúc. Xúc làm điều kiện nên có tưởng. Trong đó mắt là tăng thượng, sắc là đối tượng. Sự tiếp xúc của mắt làm nhân, sự tiếp xúc của mắt hoạt động (khởi). Các giống loại của nhãn thức, sự sinh ra của nhãn thức. Khi nhãn xúc hoạt động thì có tác ý (ý nghĩ, có ý thức) tương ưng, nên khi mắt nhận biết các sắc thì có các tư hoạt động. Các tư trong hiện tại, các tư đã qua và các tư sắp tới mà tạo ra các nghiệp của tâm ý. Thế nên gọi là mắt tiếp xúc thì sinh ra các tư của thân. Còn các thứ tiếp xúc sinh ra các tư của thân về nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý thì nên tùy chỗ mà trình bày kỹ. Sáu thứ mến yêu của thân: 1. Mắt tiếp xúc khiến thân mến yêu. 2. Tai tiếp xúc khiến thân mến yêu. 3. Mũi tiếp xúc khiến thân mến yêu. 4. Lưỡi tiếp xúc khiến thân mến yêu. 5. Thân tiếp xúc khiến thân mến yêu. 6. Ý tiếp xúc khiến thân mến yêu. Hỏi: Thế nào là mắt tiếp xúc khiến thân mến yêu? Đáp: Mắt và các sắc làm điều kiện sinh ra nhãn thức. Cả ba thứ hòa hợp lại gọi là xúc (tiếp xúc). Xúc làm điều kiện khiến có nhận biết (thọ), thọ làm điều kiện nên khiến có mến yêu. Trong đây mắt là tăng thượng, các sắc là đối tượng. Đối với các sắc mắt nhận biết, nên sinh ===== PAGE 240 ===== 240 BỘ TỲ ĐÀM 1 ra các tham lam ham thích, rồi bám lấy giữ gìn, cất giấu, đam mê, yêu mến. Đó là mắt tiếp xúc khiến thân yêu thích. Còn các thứ tiếp xúc khiến thân yêu thích của tai, mũi, lưỡi, thân, ý thì nên tùy chỗ mà trình bày kỹ. Sáu pháp thuận theo lui sụt: 1. Chẳng cung kính chư Phật. 2. Chẳng cung kính chánh pháp. 3. Chẳng cung kính chư tăng. 4. Chẳng cung kính việc học hỏi. 5. Đầy đủ lời nói ác. 6. Chơi với bạn dữ. Hỏi: Thế nào là chẳng cung kính chư Phật? Thế nào là bản chất không cung kính Phật? Đáp: Có tính chất không cung kính chư Phật Thế Tôn, không cung kính tánh bình đẳng, không thích hợp với tánh tự tại, không thỏa hợp cùng tánh bình đẳng tự tại. Đó gọi là tánh không cung kính chư Phật. Đối với chánh pháp, đối với Tăng và với sự học hỏi thì cũng như thế. Đầy đủ lời nói ác. Thế nào là tính chất lời nói ác? Như trước đây đã nói về lời nói ác (ác ngữ). Chơi với bạn ác. Thế nào là tính chất bạn ác? Như trước đây đã nói về bạn ác. Sáu pháp thuận không lui sụt: 1. Sống cung kính chư Phật. 2. Sống cung kính chánh pháp. 3. Sống cung kính chư Tăng. 4. Sống cung kính sự học hỏi. 5. Đầy đủ lời nói thiện. 6. Chơi với bạn lành. Hỏi: Sống cung kính chư Phật. Thế nào là có tánh cung kính chư Phật? Đáp: Là có tính chất cung kính chư Phật Thế Tôn, tánh có cung kính, có thích hợp với tánh tự tại, có lo sợ sự theo đuổi, đổi tánh tự tại. Đó gọi là có tánh cung kính chư Phật. Đối với chánh pháp, đối với Tăng, đối với sự học hỏi cũng như thế. Hỏi: Đầy đủ lời nói thiện. Thế nào là tính chất lời nói thiện? Đáp: Lời nói thiện như trước đây đã nói đầy đủ. ===== PAGE 241 ===== SỐ 1536 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA TẬP DỊ MÔN TÚC - Quyển 15 241 Hỏi: Chơi với bạn lành. Tính chất bạn lành là sao? Đáp: Bạn lành chính là Phật và đệ tử của Ngài hay rộng nói cho đến các việc làm có tính cách lìa bỏ sự ngu si, hay hạnh điều phục chế ngự ngu si. Đó là tính chất của bạn lành. Đối với các bạn lành như thế mà gần gũi rèn tập, thân thiết giao du, cung kính thờ phụng hầu hạ..., thì đó gọi là chơi với (gặp gỡ) bạn lành. Bài tụng (Ốt-đà-nam) thứ hai nói: Sau sáu pháp: mười bốn Là hỷ ưu xả hằng Giới xuất căn hỷ thông Minh niệm thượng quán loại. Gồm có: Sáu hành vui gần, sáu hành lo gần, sáu hành buông xả gần, sáu thứ luôn an trụ, sáu giới, sáu cõi xuất ly, sáu pháp tránh căn, sáu pháp đáng mừng, sáu thông, sáu phần tưởng thuận sáng, sáu tùy niệm, sáu pháp vô thượng, sáu quán đãi, sáu loại sinh. Sáu hành vui gần: 1. Mắt thấy sắc thuận vui hành sắc gần. 2. Tai nghe tiếng thuận vui hành tiếng gần. 3. Mũi ngửi mùi thuận vui hành mũi gần. 4. Lưỡi nếm vị thuận vui hành vị gần. 5. Thân biết chạm thuận vui hành xúc gần. 6. Ý hiểu pháp thuận vui hành pháp gần. Mắt thấy sắc thuận vui hành sắc gần, nghĩa là khi mắt thấy sắc rồi thì đối với sắc cứ một mực đáng yêu thích, vui mừng, vừa ý thỏa lòng nhưng với sắc đó cứ mãi vui mừng khởi ý nghĩ suy hoài. Nếu cứ vui vẻ nghĩ tới lui như thế thì sinh ra hỷ thọ (cảm xúc vui). Thế nên gọi là mắt thấy sắc thuận vui hành sắc gần. Đối với các thứ tai, mũi, lưỡi, thân, ý vui hạnh gần cũng như thế. Sáu hành lo gần: 1. Mắt thấy sắc thuận lo hành sắc gần. 2. Tai nghe tiếng thuận lo hành tiếng gần. 3. Mũi ngửi mùi thuận lo hành mùi gần. 4. Lưỡi nếm vị thuận lo hành vị gần. 5. Thân biết chạm thuận lo hành xúc gần. 6. Ý hiểu pháp thuận lo hành pháp gần. Mắt thấy sắc thuận lo hành sắc gần, nghĩa là khi mắt đã thấy sắc rồi thì đối với sắc cứ một mực chẳng đáng yêu thích, vui mừng, vừa ý thỏa lòng. Và vì đối với sắc đó cứ mãi lo buồn khởi ý suy nghĩ hoài. Nếu ===== PAGE 242 ===== 242 BỘ TỲ ĐÀM 1 cứ lo buồn nghĩ tới luôn như thế thì sẽ sinh ra ưu thọ (cảm xúc buồn lo). Thế nên nói mắt thấy sắc thuận lo hành sắc gần. Đối với các thứ tai, mũi, lưỡi, thân, ý lo hành gần cũng như thế. Sáu hành buông xả gần: 1. Mắt thấy sắc thuận buông xả hành sắc gần. 2. Tai nghe tiếng thuận buông xả hành tiếng gần. 3. Mũi ngửi mùi thuận buông xả hành mùi gần. 4. Lưỡi nếm vị thuận buông xả hành vị gần. 5. Thân biết chạm thuận buông xả hành xúc chạm gần. 6. Ý hiểu pháp thuận buông xả hành pháp gần. Mắt thấy sắc thuận buông xả hành sắc gần, là khi mắt thấy sắc rồi thì đối với sắc đó không có việc đáng hay chẳng đáng mến yêu, vui mừng, vừa ý thỏa lòng chi cả. Vì đối với sắc ấy nó thuận với sự buông xả chẳng để ý suy tư nhớ nghĩ chi nên sinh ra xả thọ (cảm xúc trơ, không vui buồn). Thế nên nói mắt thấy sắc thuận buông xả hành sắc gần. Đối với các thứ tai, mũi, lưỡi, thân, ý buông xả hành gần cũng như thế. Sáu thứ luôn an trụ: 1. Mắt thấy sắc chẳng vui, chẳng buồn, đủ niệm chánh tri, luôn an trụ và buông xả. 2. Tai nghe tiếng không vui không buồn đủ niệm chánh tri luôn an trụ vào buông xả. 3. Mũi ngửi mùi không vui không buồn đủ niệm chánh tri luôn an trụ vào buông xả. 4. Lưỡi nếm vị không vui không buồn, đủ niệm chánh tri, luôn an trụ vào buông xả. 5. Thân biết xúc chạm, không vui không buồn đủ niệm chánh tri luôn an trụ vào buông xả. 6. Ý hiểu pháp không vui không buồn, đủ niệm chánh tri, luôn an trụ vào buông xả. Mắt thấy sắc mà không vui không buồn đủ niệm chánh tri luôn an trụ vào buông xả, là mắt thấy sắc đối với việc đáng yêu thích vui mừng hài lòng thỏa ý thì không yêu thích vui mừng hài lòng thỏa ý, hoặc là nương nhờ, hoặc tất cả đều không gián đoạn, hoặc là duyên vào đó, ở vào đó (đối tượng duyên, sở xứ) hoặc là sắc tăng thượng mà thuận với sự buông xả khởi ý suy nghĩ. Nếu đối với loại sắc đó mà luôn khởi ý nghĩ mãi tới sự buông xả thì sinh ra diệu xả, tức sự buông xả tuyệt diệu nhiệm mầu. Thế nên nói mắt thấy mà không vui không buồn, đủ niệm ===== PAGE 243 ===== SỐ 1536 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA TẬP DỊ MÔN TÚC - Quyển 15 243 chánh tri, luôn an trụ vào buông xả. Đối với các thứ tai, mũi, lưỡi, thân, ý mà luôn an trụ thì cũng như thế. Trong đây nói về buông xả là sao? Nói buông xả tức là chỉ cho tâm có tánh bình đẳng tâm có tánh chánh trực ngay thẳng, tâm không khinh sợ mà nhanh nhẹn tháo vác. Lại có chỗ nói: Sáu thức tương ưng cùng duyên nơi các cảnh của sắc-thanh-hương-vị-xúc-pháp mà có xả thọ (cảm xúc buông xả) thì gọi là buông xả. Nay nghĩa trong đây là ý nói đến xả của tâm bình đẳng, tâm ngay thẳng, tâm không kinh sợ mà lại nhanh nhẹn tháo vác, lại luôn luôn xả thì gọi là xả. Có sáu lĩnh vực (Giới): 1. Lĩnh vực của đất. 2. Lĩnh vực của nước. 3. Lĩnh vực của lửa. 4. Lĩnh vực của gió. 5. Lĩnh vực của hư không. 6. Lĩnh vực của thức. Nên lĩnh vực của phân biệt các lĩnh vực nầy đúng pháp uẩn luận. Có sáu lĩnh vực xuất ly: 1. Như có một thầy bảo: Đối với định tâm từ, dù tôi đã luyện tập tu hành và cố gắng làm đủ mọi cách, nhưng tâm tôi hãy còn bị giận dữ trói chặt. Hãy nên bảo vị ấy: Đừng nên nói như thế! Vì sao? Vì nếu vị nào đối với định tâm từ mà rèn luyện tu hành và làm đủ mọi cách với vô niệm mà tâm người ấy cũng còn bị giận dữ trói chặt thì không thể nào có chuyện đó được! Vì ai đã có định tâm từ thì nhất quyết là phải xuất ly vượt thoát ra ngoài tất cả mọi sự trói buộc của giận dữ. Xuất ly ở đây là sao? Khi đoạn dứt sự trói cột của giận dữ cũng gọi là xuất ly, khi vượt thoát được sự trói buộc của giận dữ cũng gọi là xuất ly, những người có định tâm từ cũng gọi là xuất ly. Nay nghĩa trong đây ý nói chữ xuất ly của những kẻ có định tâm từ. 2. Như có thầy bảo: Đối định tâm bi, dù tôi đã luyện tập tu hành và cố gắng làm đủ mọi cách, nhưng tâm tôi vẫn còn bị sự tàn hại trói chặt. Hãy nên bảo vị ấy đừng nên nói như thế! Vì sao? Vì nếu vị nào đối với định tâm bi mà rèn luyện tu hành và làm đủ mọi cách với vô niệm nhưng tâm người ấy cũng còn bị tàn hại trói chặt thì đều đó không thể nào có! Vì nếu ai đã có định tâm bi thì nhất quyết là phải xuất ly vượt thoát khỏi tất cả mọi sự trói buộc của tàn hại. ===== PAGE 244 ===== 244 BỘ TỲ ĐÀM 1 Xuất ly ở đây có nghĩa thế nào? Dứt hẳn sự ràng buộc của tàn hại cũng gọi là xuất ly, vượt thoát sự ràng buộc của tàn hại cũng gọi là xuất ly, các người có định tâm bi cũng gọi là xuất ly. Nay nghĩa trong đây ý nói những kẻ có định tâm bi gọi là xuất ly. 3. Như có thầy bảo: Đối với định tâm hỷ tôi đã rèn luyện tu tập và làm đủ mọi cách nhưng tâm tôi vẫn còn bị sự không vui (chẳng an lạc) trói chặt. Hãy nên bảo với thầy đó: Đừng nên nói như thế! Vì sao? Vì nếu vị nào đối với định tâm hỷ mà đã rèn luyện tu tập và cố gắng làm đủ mọi cách với vô niệm nhưng tâm người ấy vẫn còn bị không an lạc trói chặt thì điều đó không thể nào có được. Vì nếu đã có định tâm hỷ thì nhất quyết là phải xuất ly vượt thoát tất cả mọi sự trói chặt của sự không vui (an lạc). Trong đây xuất ly là nghĩa thế nào? Đoạn dứt chẳng vui cũng gọi là xuất ly, vượt thoát khỏi sự không vui cũng gọi là xuất ly. Các người có định tâm hỷ cũng gọi là xuất ly. Nay nghĩa trong đây ý nói người có định tâm hỷ gọi là xuất ly. 4. Có thầy lại bảo: Đối với định tâm xả, dù tôi đã rèn luyện tu tập và đã làm đủ mọi cách nhưng tâm tôi vẫn còn bị dục, tham và sân trói chặt. Hãy nên bảo với thầy đó: Đừng nên nói như thế! Vì sao? Vì nếu vị nào đối với định tâm xả mà rèn luyện tu tập và đã làm đủ mọi cách, với vô niệm, nhưng tâm người ấy vẫn còn bị dục tham và sân trói chặt, thì điều đó không thể nào xảy ra được. Vì nếu ai đã có định tâm xả thì nhất quyết là phải xuất ly vượt khỏi tất cả mọi trói buộc của dục tham và sân giận. Chữ xuất ly ở đây có nghĩa thế nào? Đoạn dứt hẳn dục tham và sân cũng gọi là xuất ly, vượt thoát mọi dục tham và sân cũng gọi là xuất ly. Các định tâm xả thì cũng gọi là xuất ly. Nay nghĩa trong đây ý muốn nói cái xuất ly có định tâm xả. 5. Có thầy lại bảo: Đối với tâm định vô tướng, dù tôi đã rèn luyện tu tập và đã làm đủ mọi cách, nhưng tâm tôi vẫn còn bị trói chặt của thức tùy tướng. Hãy nên bảo với vị đó: Đừng nói như thế! Vì sao? Vì nếu vị nào đối với tâm định vô tướng đã rèn luyện tu tập và đã làm đủ mọi cách, với vô niệm nhưng tâm người ấy vẫn còn bị thức tùy tưởng ràng buộc chặt thì đều nầy không thể nào xảy ra được. Vì nếu ai đã định tâm vô tướng thì nhất quyết là phải xuất ly vượt thoát tất cả thức tùy tướng. Chữ xuất ly ở đây có nghĩa như thế nào? Dứt hết thức tùy tướng cũng gọi là xuất ly, vượt khỏi thức tùy tướng cũng gọi là xuất ly, có được ===== PAGE 245 ===== SỐ 1536 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA TẬP DỊ MÔN TÚC - Quyển 15 245 định tâm vô tướng cũng gọi là xuất ly. Nay nghĩa trong đây ý muốn nói cái xuất ly khi có được định tâm vô tướng. 6. Lại có thầy bảo: Dù tôi đã lìa bỏ ngã mạn, không còn nhìn thấy ngã và ngã sở, nhưng tâm tôi vẫn còn bị tên độc của nghi ngờ do dự trói chặt và làm tổn hại. Xin nói với vị đó: Đừng nên nói như thế! Vì sao? Vì nếu vị nào đã lìa bỏ hết ngã mạn, không còn thấy ngã và ngã sở với vô niệm nhưng tâm người ấy vẫn còn bị tên độc của nghi ngờ do dự trói chặt và làm tổn hại thì điều đó không thể nào xảy ra được. Vì nếu ai đã lìa bỏ ngã mạn, không còn nhìn thấy ngã và ngã sở thì nhất quyết là phải xuất ly vượt thoát các tên độc của nghi ngờ do dự. Chữ xuất ly ở đây có nghĩa như thế nào? Dứt hẳn ngã mạn cũng gọi là xuất ly, vượt thoát khỏi ngã mạn cũng gọi là xuất ly. Nay nghĩa trong đây ý nói về xuất ly khi đã vượt thoát khỏi ngã mạn. Có sáu thứ gốc tranh cãi: 1. Có một số người hay giận dữ. Vì nếu có giận dữ thì đối với bậc Đại sư không thể nào cung kính, cúng dường tôn trọng, ngợi khen được. Do vậy mà không hiểu được chánh pháp. Nếu không thấy được chánh pháp thì còn đoái hoài gì đến đời sống của Sa-môn? Nếu không đoái hoài đến đời sống của Sa-môn thì liền khởi lên sự đam mê nhiễm, mãi đùa giỡn tranh cãi. Do bám dựa vào lối sống đó nên làm cho nhiều chúng sinh không được nghĩa lý lợi ích mà phải chịu nhiều khổ não, vô lượng hàng trời, người cũng không hưởng được lợi ích mà phải chịu nhiều sự khổ não. Nếu quý thầy thấy rõ được các cội gốc tranh cãi hoặc ở trong hay ở ngoài có chỗ nào chưa đoạn trừ, thì hãy nên hòa hợp tu tập mà siêng năng chuyên cần tìm đủ mọi phương cách mà đoạn trừ, không nên chơi bời phóng dật nữa. Quý thầy cần nên đoạn thật hết sạch các cội gốc tranh cãi, đừng để sót tí nào như trước đây hãy còn thanh tịnh chưa khởi gốc tranh cãi. Quý thầy đã thấy rõ hoặc trong hoặc ngoài, các gốc tranh cãi đã được đoạn trừ thật hết rồi thì nên phát khởi lên chánh niệm và chánh tri. Và với tâm hăng hái mạnh mẽ luôn siêng năng chuyên cần gìn giữ khiến cho mãi đến đời sau nó vĩnh viễn không bao giờ hiện ra nữa, thì đó là chánh đoạn, đoạn diệt khéo léo tài tình các gốc tranh cãi như thế. 2. Đây là có giận hờn. Còn như nếu có che giấu buồn phiền, nếu có ganh tỵ keo kiệt, nếu có dối trá dua nịnh, nếu có tà kiến đảo kiến (thấy biết sai lầm) thì cũng rộng nói như thế. Lại có một số người chấp chặt vào quan điểm chấp thật cứng chắc bền bỉ không thể nào khuyên dạy không bỏ được. Nếu ngoan cố như thế ===== PAGE 246 ===== 246 BỘ TỲ ĐÀM 1 thì đối với bậc Đại sư không thể nào cung kính cúng dường tôn trọng ngợi khen được. Do vậy không thể thấy được chánh pháp. Nếu chẳng thấy được chánh pháp thì đâu có đoái hoài chi tới đời sống của bậc Sa- môn. Nếu không đoái hoài đến đời sống của bậc Sa-môn thì liền khởi đam mê nhiễm trước, mãi lo chơi bời và tranh cãi. Vì chỉ sống trong đam mê nhiễm trước, tranh cãi nên khiến bao nhiêu chúng sinh không được nghĩa lý lợi ích mà phải chịu nhiều khổ não, vô số hàng trời người cũng không hưởng nhờ nghĩa lý lợi ích mà phải chịu bao nhiêu khổ não. Nếu quý thầy đã thấy rõ gốc tranh cãi đó hoặc trong hoặc ngoài có chỗ nào chưa đoạn trừ hết thì hãy nên hòa hợp tụ tập lại mà siêng năng chuyên cần cố tìm mọi phương cách để đoạn diệt cho thật hết sạch, không nên chơi bời phóng dật nữa. Quý thầy cũng nên cố gắng diệt thật hết gốc tranh cãi đừng để sót tí nào, như trước đây hãy còn thanh tịnh chưa khởi gốc tranh cãi. Quý thầy khi đã thấy rõ hoặc trong hay ngoài các gốc tranh cãi đều đã được đoạn diệt thật hết rồi thì hãy phát khởi chánh niệm và chánh tri. Và với lòng hăng hái mạnh mẽ, luôn siêng năng chuyên cần gìn giữ, khiến cho tận mãi ở đời sau nó vĩnh viễn không còn sinh lại nữa. Thì đó là chánh đoạn, đoạn diệt khéo léo tài tình các gốc tranh cãi như thế. 3. Đây là nói về người có giận hờn, còn như nếu có che giấu, buồn rầu, nếu có ganh tỵ keo kiệt, nếu có lừa dối dua nịnh, nếu có thấy biết điên đảo sai lầm, thì tất cả đều như trước vừa nói. 4. Có tà kiến đảo kiến (có thấy biết điên đảo sai lầm). Thế nào là tà kiến? Nếu có thấy biết mà chẳng chịu bố thí ban tặng, không cúng lễ, không mến thích..., rộng nói cho đến đời ta đến đây đã hết, phạm hạnh đã lập, việc làm đã xong, chẳng còn phải kiếp sau nữa, không biết lý đó thì gọi đó là tà kiến. 5. Còn đảo kiến là sao? Tức là có tà kiến và sự thấy biết lầm lẫn nghịch lý ngược đời. 6. Chấp giữ sự thấy biết của mình, chấp giữ thật cứng chắc bền bỉ, rất khó khuyên dạy buông bỏ được. Thế nào là chấp chặt quan điểm mình? Chấp ngã và thế gian nầy thường còn mãi, chỉ có điều đó là đúng thực, các điều khác là ngu dốt, sai lầm, hư vọng. Rộng nói cho đến việc chấp: Như Lai sau khi chết rồi không phải có mà cũng không phải không có, chỉ có điều nầy là đúng thực, các ý kiến khác đều ngu dốt, sai lầm, hư vọng. Đó gọi là chấp chặt quan điểm mình. Thế nào là chấp giữ thật cứng chắc bền bỉ? Tức là do chấp chặt ===== PAGE 247 ===== SỐ 1536 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA TẬP DỊ MÔN TÚC - Quyển 15 247 quan điểm mình thế nên khởi lên chấp chặt cứng chắc bền bỉ. Thế nào là khó buông bỏ khuyên dạy? Do khởi lên sự mến thích, mến thích luôn luôn, mến thích tất cả, hiện đang mãi mãi mến thích quan điểm mình. Thế nên rất khó khuyên dạy sự chán ghét, lìa bỏ và giải thoát. Có sáu pháp đáng mừng: 1. Như có vị Bí-sô, ở chỗ bậc Đại sư và các bậc trí đồng tu phạm hạnh mà phát khởi tu thân nghiệp từ bi, đó là pháp đáng mừng thứ nhất. Do pháp nầy cho nên hay phát sinh ra sự đáng mến yêu, đáng tôn trọng, đáng vừa ý, và dẫn đến mọi sự mến thích tôn trọng vừa ý thỏa lòng nên thâu giữ được sự vui mừng hoan lạc một mực không hề trái nghịch tranh cãi nhau. 2. Lại có vị Bí-sô ở chỗ bậc Đại sư và các bậc có trí đồng tu phạm hạnh mà phát khởi sự tu ngữ nghiệp từ bi. Đó là pháp đáng mừng thứ hai. Do pháp nầy cho nên hay phát sinh ra sự đáng yêu mến. Rộng nói cho đến một mực không hề tranh cãi. 3. Lại có vị Bí-sô ở chỗ bậc Đại sư và các bậc trí đồng tu phạm hạnh mà khởi tu ý nghiệp từ bi tức là pháp đáng mừng thứ ba. Do pháp nầy cho nên hay phát sinh ra sự đáng yêu mến. Rộng nói cho đến một mực không hề tranh cãi. 4. Lại có vị Bí-sô do nhờ pháp mà thâu nhận một số lợi dưỡng hợp pháp, ít nhất như các thức ăn uống nhận được trong bát khi khất thực. Với số lợi dưỡng nầy thì cùng với các bậc trí đồng tu phạm hạnh chia nhau mà thọ hưởng chung, chứ không hề giấu riêng. Đó gọi là pháp đáng mừng thứ tư. Do pháp nầy cho nên phát sinh ra sự đáng yêu mến. Rộng nói cho đến một mực không hề tranh cãi. 5. Lại có vị Bí-sô có bao nhiêu giới hạnh không hề thiếu sót, không lẫn lộn. Đáng được ứng cúng (cúng dường) là bậc thiện không chấp trước, bậc thiện rốt ráo, đáng được các người trí khen ngợi không hề chê bai hủy báng. Với các giới hạnh như thế cùng với các bậc trí đồng tu phạm hạnh, cùng nhau thọ trì tuân giữ không hề giấu giếm. Đó là pháp đáng mừng thứ năm. Do pháp nầy cho nên phát sinh ra các sự đáng yêu mến. Rộng nói cho đến một mực không hề tranh cãi. 6. Lại có vị Bí-sô có những nhận thức, sự thấy biết là sự xuất ly của Thánh nhân (Phật) có thể khéo thông đạt thấu suốt tất cả, nếu thật hiện được cách đó thì chính thức dứt hết các khổ. Với sự thấy biết như thế cùng với các bậc trí đồng tu phạm hạnh, cùng nhau tu tập không che giấu. Đó là pháp đáng mừng thứ sáu. Do pháp nầy cho nên phát sinh ra ===== PAGE 248 ===== 248 BỘ TỲ ĐÀM 1 các sự đáng yêu mến, đáng tôn trọng, đáng thích ý. Có thể dẫn đến mọi sự yêu thích, tôn trọng vừa ý thỏa lòng nên thâu nhận được sự vui mừng hoan không hề trái nghịch tranh cãi. Đối với bậc Đại sư. Thế nào là Đại sư? Đại sư là chỉ cho tất cả Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác. Các bậc trí đồng tu phạm hạnh. Thế nào là các bậc trí đồng tu phạm hạnh? Các bậc trí đồng tu phạm hạnh là chỉ cho các Tôn giả Giải Kiều Trần Na cho đến rộng kể các vị khác nữa... Khởi tu thân nghiệp về từ bi. Thân nghiệp từ bi là sao? Tức là những hoạt động phấn chấn, thương xót mọi loài của thân nghiệp. Trong đây ý nói thân nghiệp từ bi ở chỗ các bậc Đại sư là những kẻ trí đồng tu phạm hạnh thì nó hòa hợp trong cuộc sống hiện tại. Do đó nên nói là ở chỗ bậc Đại sư và các bậc trí đồng tu phạm hạnh mà khởi tu thân nghiệp từ bi. Đó là pháp đáng mừng thứ nhất. Nghĩa là với pháp đó thì nên tùy thuận theo đuổi và đáng mến thích cung kính cúng dường nuôi lớn thân thể đẹp đẽ trang nghiêm với mọi thứ vật dụng cần thiết. Thế nên gọi là pháp đáng mừng. Có thể (hay) phát sinh sự đáng yêu mến, tức là do pháp nầy mà có thể phát sinh sự đáng yêu mến. Cũng do pháp nầy mà có thể phát sinh các sự đáng tôn trọng, đáng vừa ý. Có thể dẫn đến mọi sự đáng yêu tôn trọng thích ý thỏa lòng nên thâu giữ được sự mừng vui hoan lạc một mực không hề trái nghịch tranh cãi. Nghĩa là chính do pháp nầy dẫn đến sự mến yêu tôn trọng, vừa ý vui lòng để nhận được sự mừng vui hoan lạc không hề trái nghịch tranh cãi, nghĩa là hòa hợp thuận thảo nhau. Nói là một mực (nhất thú), là một cảnh, một cõi, một môi trường hoàn cảnh hiện tại (vị). Cũng như thân nghiệp từ bi, các ngữ nghiệp và ý nghiệp từ bi cũng y như thế. Nhờ chánh pháp mà nhận được các lợi dưỡng hợp pháp là sao? Nếu các lợi dưỡng nào chẳng do lừa dối mà được, chẳng do dối trá lừa đảo, chẳng do giả bộ hiện tướng đàng hoàng, chẳng do kích thích mà có được, cũng chẳng phải do vị lợi dưỡng cố ý mong cầu lợi dưỡng mà được và cả ngay trong lúc thọ dụng lại không có tạo ra những lỗi lầm tội lỗi nào thì đó gọi là nhờ chánh pháp mà nhận được các lợi dưỡng. Ít nhất là các thức ăn uống nhận được trong bát, nghĩa là các thức ăn uống dưới đáy bát còn chia nhau thọ dụng huống là tiền bạc và các ===== PAGE 249 ===== SỐ 1536 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA TẬP DỊ MÔN TÚC - Quyển 15 249 vật dụng khác... Tất cả các thứ lợi dưỡng nầy đều cùng các bậc trí đồng tu phạm hạnh. Cùng chung thọ dụng không giấu giếm dùng riêng, tức là các lợi dưỡng do chánh pháp mà thâu nhận được một cách hợp lý thì gọi là “các thứ lợi dưỡng nầy”. Nếu các Bí-sô, Bí-sô ni cùng các người chánh thức có tu học siêng năng chuyên cần, dù là nam nữ cư sĩ thì đều gọi là các người có trí đồng tu phạm hạnh. Nhờ chánh pháp mà được các lợi dưỡng hợp pháp thì nên cùng với các người trí đồng tu phạm hạnh mà chung nhau thọ dụng, chẳng nên giấu giếm để dùng riêng. Nên gọi là pháp đáng mừng thứ tư, như đã được nói rõ ở trước. Có bao nhiêu giới hạnh là sao? Tức là có thân nghiệp, ngữ nghiệp vô lậu và đời sống thanh tịnh, tất cả đều gọi là có giới hạnh không thiếu sót, không lẫn lộn xen tạp, nghĩa là các giới hạnh nầy luôn luôn được tuân hành vâng giữ và chuyển đổi, cùng bình đẳng thi hành và chuyển đổi, cho nên gọi là không thiếu sót lộn xộn tạp bẩn. Đáng cúng dường (ứng cúng), nghĩa là các hữu tình nào còn tham sân si thì nói là cấp dưỡng, còn những ai đã lìa bỏ được tham sân si, thì gọi là ứng cúng, đáng được nhận thọ mỗi thứ cấp dưỡng như y phục, thức ăn uống, ngọa cụ giường nằm, thuốc men thường đem đến dâng cúng dường. Không chấp trước, là các đệ tử Phật đối với giới hạnh không khởi lên sự chấp trước. Thiện rốt ráo, là đối với các giới hạnh nầy khéo léo cẩn thận kỹ lưỡng giữ gìn đến cùng cực rốt ráo. Khéo nhận được, là đối với các giới hạnh nầy mà ân cần tôn trọng cung kính, giữ gìn cẩn thận thì đủ, nhận được các bậc trí khen ngợi không chê bai hủy báng. Nghĩa là chư Phật và các đệ tử Phật thì gọi là bậc Trí, các bậc trí nầy đều cùng ngợi khen, không hề quở trách. Với các giới hạnh như thế thì cùng các bậc trí đồng tu Phạm hạnh chung nhau tuân giữ thọ trì không hề che giấu. Giới hạnh như thế là sao? Nghĩa là các giới bình đẳng, giới bình đẳng chính là tám Thánh đạo, trong đó chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng thì gọi là giới bình đẳng, cùng các bậc trí đồng tu Phạm hạnh, tức là các Tôn giả Giải Kiều Trần Na v.v... Cùng tuân giữ thọ trì, không hề che giấu, là cùng các bạn đồng tu Phạm hạnh, cùng chung một mục đích đường lối, cùng một nghĩa lý lợi ích, nó đều giống nhau cả. ===== PAGE 250 ===== 250 BỘ TỲ ĐÀM 1 Gọi là pháp đáng mừng thứ năm. Như trước đã nói rồi. Có bao nhiêu nhận thức, sự thấy biết là sao? Nếu y vào sự xuất ly, mà lìa bỏ sự sinh ra các pháp thiện thì đối với các pháp tướng, các pháp tuyển chọn càng tuyển chọn kỹ lưỡng cùng cực, cho đến rộng nói... Là sự xuất ly của Thánh nhân (Phật v.v...) thì như trước đã rộng nói. Với sự thấy biết đó mà cùng với bậc trí đồng tu Phạm hạnh cùng chung tu học không hề che giấu. Thế nào là sự thấy biết như thế? Nghĩa là sự thấy biết về bình đẳng, tức là sự thấy biết và tám Thánh đạo vậy. Còn các điều khác thì như trước đã nói. Đó là sáu pháp đáng mừng. Có sáu pháp thần thông: 1. Thần cảnh trí chứng thông. 2. Thiên nhĩ trí chứng thông. 3. Tha tâm trí chứng thông. 4. Túc trụ trí chứng thông. 5. Tử sinh trí chứng thông. 6. Lậu tận trí chứng thông. - Thế nào là Thần cảnh trí chứng thông? Đáp: Là lãnh thọ hiểu biết và thị hiện biến hóa ra mọi thứ thần thông biến hóa..., cho đến rộng nói. Chữ thông ở đây có nghĩa thế nào? Nghĩa là đối với các thứ thần thông biến hóa đó thì có trí biết rất tuyệt diệu. - Thế nào là Thiên nhĩ trí chứng thông? Đáp: Do tai của các trời nghe được các thứ tiếng, như tiếng nói của loài người, loài không phải người, tiếng xa, tiếng gần v.v... Chữ thông ở đây có nghĩa thế nào? Tức là có trí tuyệt vời đối với các thứ tiếng của tai trời. - Thế nào là tha tâm thông trí chứng? Đáp: Nghĩa là đối với tâm có tầm tứ của chúng hữu tình Bổ-đặc- già-la thì đều biết đúng như thật. Như có tâm tham thì biết đúng là tâm tham, tâm đã lìa bỏ tham thì biết đúng là tâm đã lìa bỏ tham. Cũng như thế tâm có sân giận hay lìa bỏ sân giận, tâm có si hay lìa bỏ si, tâm tóm lược, tâm phân tán, tâm đưa xuống, tâm hướng lên, tâm luôn xao động hay không xao động, tâm lặng yên hay không lặng yên, tâm không định hay định, tâm tu hay không tu, tâm giải thoát hay không giải thoát..., đều biết đúng như thật. Chữ thông ở đây có nghĩa thế nào? Nghĩa là đối với sự biết rõ lòng ===== PAGE 251 ===== SỐ 1536 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA TẬP DỊ MÔN TÚC - Quyển 15 251 người thì có trí biết tuyệt diệu. - Thế nào là Túc trụ trí chứng thông? Đáp: Nghĩa là có thể nhớ lại được các việc, các kiếp sống đời trước của vô lượng đời quá khứ, hoặc một kiếp hoặc nhiều kiếp..., cho đến như đã rộng nói. Chữ thông ở đây có nghĩa thế nào? Đối với các việc ở đời trước thì có trí biết thật tuyệt diệu. - Thế nào sinh tử trí chứng thông? Đáp: Như trước đây đã nói rồi. - Thế nào lậu tận trí chứng thông? Đáp: Cũng như trước đây đã rất rõ ràng rộng rãi rồi. ===== PAGE 252 ===== 252 BỘ TỲ ĐÀM 1 LUẬN A TỲ ĐẠT MA TẬP DỊ MÔN TÚC