VI DIỆU PHÁP
Abhidhamma Piṭaka · Pāli · Việt · English · Chú giải
Đọc:
← A-tỳ-đạt-ma Tập Dị Môn Túc Luận ← Quyển 15Quyển 17 →

A-tỳ-đạt-ma Tập Dị Môn Túc Luận · Quyển 16

阿毘達磨集異門足論 · T1536

Hán văn

尊者舍利子說
三藏法師玄奘奉 詔譯
六法品第七之二
六順明分想者,云何為六?答:一、無常想;二、無
常苦想;三、苦無我想;四、厭食想;五、一切世間
不可樂想;六、死想。此中五想如成熟解脫想
說。云何一切世間不可樂想?答:世間謂五取
蘊,即色取蘊乃至識取蘊。有諸苾芻於五取
蘊,以有思慮俱行作意審諦思惟、以有恐懼
俱行作意審諦思惟、以不可樂俱行作意審
諦思惟、以不可喜俱行作意審諦思惟。彼於
五取蘊如是思惟時,諸想、等想、現前等想、
已想當想,是名一切世間不可樂想。問:何故
名為順明分想?答:明有三種。一、無學宿住智
證明;二、無學死生智證明;三、無學漏盡智證
明。由前六想,令此三明未生者生、已生者增

長廣大,故名順明分想。
六隨念者,云何為六?答:一、佛隨念;二、法隨念;
三、僧隨念;四、戒隨念;五、捨隨念;六、天隨念。云
何佛隨念?答如世尊說:苾芻當知,有聖弟子
於世尊所,以如是相隨念諸佛,謂此世尊是
如來、阿羅漢,廣說乃至佛、薄伽梵。若聖弟子
以如是相隨念諸佛,見為根本、證智相應,諸
念、隨念、別念、憶念,念性、隨念性、別念性、不忘
性、不忘法性、心明記性,是名佛隨念。云何
法隨念?答:如世尊說:苾芻當知,有聖弟子以
如是相隨念正法,謂佛正法善說,乃至知者
內證。若聖弟子以如是相,隨念正法見為根
本,證智相應廣說如前,是名法隨念。云何僧
隨念?答:如世尊說:苾芻當知,有聖弟子以如
是相隨念諸僧,謂佛弟子具足妙行,廣說乃
至無上福田世所應供。若聖弟子以如是相
隨念諸僧,見為根本、證智相應,廣說如前,是
名僧隨念。云何戒隨念?答:如世尊說:苾芻當
知,有聖弟子以如是相隨念自戒,謂此淨戒
無缺無隙,廣說乃至諸有智者稱讚無毀。若
聖弟子以如是相隨念自戒,見為根本、證智
相應,廣說如前,是名戒隨念。云何捨隨念?答:
如世尊說:苾芻當知,有聖弟子以如是相隨
念自捨,謂我善得無染財利,我於慳垢所縛
眾中能離慳垢心無染著,舒手惠施所有財
物,棄捨財物心無所顧,分布施與心無偏黨。
若聖弟子以如是相隨念自捨,見為根本、證
智相應,廣說如前,是名捨隨念。云何天隨念?
答:如世尊說:苾芻當知,有聖弟子以如是相

隨念諸天,謂有四大王眾天、有三十三天、有
夜摩天、有覩史多天、有樂變化天、有他化自
在天。若有成就無倒信、戒、聞、捨、慧者,從此捨
命得生彼天;我亦成就無倒信、戒、聞、捨、慧善,
云何不得當生彼天?若聖弟子以如是相隨
念諸天,見為根本、證智相應,諸念隨念、別念、
憶念,念性、隨念性、別念性、不忘性、不忘法性、
心明記性,是名天隨念。
六無上法者,云何為六?一、見無上;二、聞無上;
三、利無上;四、學無上;五、行無上;六、念無上。云
何見無上?答:如世尊說:苾芻當知,如有一類
補特伽羅,往觀輪寶、象寶、馬寶、珠寶、女寶、主
藏臣寶、主兵臣寶,或復往觀若沙門若婆羅
門發起邪見邪見行者,我說彼類雖有所見
非無所見,而是下賤本性異生非賢聖見。若
有修植清淨信愛,往觀如來或佛弟子,我說
彼類為無上見,能自利益、能自安樂、能令自
身安隱而住超越災愁滅諸憂苦,疾能證得
如理法要。是名見無上。云何聞無上?答:如世
尊說:苾芻當知,如有一類補特伽羅,往聽象
聲馬聲、車聲步聲、螺聲大小鼓聲、呼叫聲歌舞
聲伎樂聲,或復往聽若沙門若婆羅門發起邪
見邪見行者所說邪法。我說彼類,雖有所聞
非無所聞,而是下賤本性異生非賢聖聞。若
有修植清淨信愛,往聽如來或佛弟子所說
正法,我說彼類為無上聞,能自利益,廣說乃
至疾能證得如理法要。是名聞無上。云何利
無上?答:如世尊說:苾芻當知,如有一類補特
伽羅,或得妻子、或得珍財、或得諸穀、或行

親友,或於沙門若婆羅門發起邪見邪見行
者得深信樂。我說彼類,雖名得利非不得利,
而是下賤本性異生非賢聖利。若有修植清淨
信愛,能於如來及佛弟子得深信樂,我說彼
類得無上利,能自利益,廣說乃至疾能證得
如理法要。是名利無上。云何學無上?答:如世
尊說:苾芻當知,如有一類補特伽羅,或學乘
象或學乘馬、或學乘車或學彎弓、或學放箭
或學執鉤、或學執索或學執排、或學上乘或
學下乘、或學馳走或學跳躑、或學書數或學
算印、或學沙門若婆羅門發起邪見邪見行
者所說學處。我說彼類,雖有所學非無所學,
而是下劣本性異生非賢聖學。若有修植清
淨信愛,能學如來及佛弟子所說學處,我說
彼類為無上學,能自利益,廣說乃至能疾證
得如理法要。是名學無上。云何行無上?答:如
世尊說:苾芻當知,如有一類補特伽羅,行調
象行或調馬行、或調人行或調牛行、或事火
行或事月行或事日行、或事藥行或事珠行、
或事星宿宮殿等行、或行沙門若婆羅門發起
邪見邪見行者所受持行。我說彼類,雖有所
行非無所行,而是下賤本性異生非賢聖行。
若有修植清淨信愛,能行如來及佛弟子所
行之行,我說彼類為行無上,能自利益,廣說
乃至疾能證得如理法要。是名行無上。云何
念無上?答:如世尊說:苾芻當知,如有一類補
特伽羅,或念妻子、或念財穀、或念親友、或念
沙門若婆羅門發起邪見邪見行者及彼邪法。
我說彼類,雖有所念非無所念,而是下賤本

性異生非賢聖念。若有修植清淨信愛,能念
如來及佛弟子,我說彼類為念無上,能自利
益、能自安樂、能令自身安隱而住超越災愁
滅諸憂苦,疾能證得如理法要。是名念無上。
此中世尊說伽他曰:
「若得離相應,安隱無上見,
聞利學行念,必得趣無憂。」
六觀待者,云何為六?答一、觀待色;二、觀待聲;
三、觀待香;四、觀待味;五、觀待觸;六、觀待法。云
何觀待色?答:若色有漏有取,於此諸色若過
去若未來若現在,或欲或貪或瞋或癡,或隨
一一心所,隨煩惱應生時生,是名觀待色。聲、
香、味、觸觀待亦爾。云何觀待法?答:若法有漏
有取,於此諸法若過去若未來若現在,或欲
或貪或瞋或癡,或隨一一心所,隨煩惱應生
時生,是名觀待法。
六生類者,云何為六?答:一、有黑生類補特伽
羅生起黑法;二、有黑生類補特伽羅生起白
法;三、有黑生類補特伽羅生起非黑非白涅
槃法;四、有白生類補特伽羅生起白法;五、有
白生類補特伽羅生起黑法;六、有白生類補
特伽羅生起非黑非白涅槃法。云何黑生類
補特伽羅生起黑法?答:如有一類生貧賤家,
謂旃荼羅家廣說乃至少飲食家。彼生此家,
形容醜陋,人不憙見、眾共訶毀,多分為他作
諸事業,故名為黑。如是黑類,行身惡行、行語
惡行、行意惡行,由行三種惡行因緣,身壞命
終墮於惡趣,生地獄中受諸劇苦,是名黑生
類補特伽羅生起黑法。云何黑生類補特伽羅

生起白法?答:如有一類生貧賤家,謂旃荼羅
家,廣說乃至少飲食家。彼生此家,形容醜陋,
人不憙見、眾共訶毀,多分為他作諸事業,故
名為黑。如是黑類,行身妙行、行語妙行、行意
妙行,由行三種妙行因緣,身壞命終生於善
趣,天世界中受諸妙樂,是名黑生類補特伽
羅生起白法。云何黑生類補特伽羅生起非
黑非白涅槃法?答:如有一類生貧賤家,謂旃
荼羅家,廣說乃至少飲食家。彼生此家,形容
醜陋,人不憙見、眾共訶毀,多分為他作諸事
業,故名為黑。如是黑類,聞有如來為眾宣說
如實所證法毘柰耶便往聽受,既聽受已得
淨信心。彼成如是淨信心故,作是思惟:「居家
迫迮譬如牢獄多諸塵穢,出家寬廣猶若虛
空,一切善法因之生長。」又作是念:「耽著居家,
彼尚不能恒修世善,況能盡命精勤修學純
一圓滿清白梵行。是故我應剃除鬚髮,身被法
服正信捨家,出趣非家勤修梵行。」既思念已,
便於後時棄捨親財,剃除鬚髮、身被法服,正
信捨家出趣非家,受持淨戒精勤守護,別解
脫律儀軌則所行無不具足,於微小罪見大怖
畏,受學學處常無毀犯。依斯戒蘊漸次勤修,
乃至證得第四靜慮,由定心故乃至漏盡,證
得無漏心慧解脫,廣說乃至不受後有,是名
黑生類補特伽羅生起非黑非白涅槃法。云
何白生類補特伽羅生起白法?答:如有一類
生富貴家,謂剎帝利大族、或婆羅門大族、或
長者大族、或居士大族、或餘隨一富貴家生,
多饒財寶倉庫盈溢。彼生此家,形容端正,人

皆樂見、眾共稱美,故名為白。如是白類,行身
妙行、行語妙行、行意妙行,由行三種妙行因
緣,身壞命終生於善趣,天世界中受諸妙樂,
是名白生類補特伽羅生起白法。云何白生
類補特伽羅生起黑法?答:如有一類生富貴
家,謂剎帝利大族、或婆羅門大族、或長者大
族、或居士大族、或餘隨一富貴家生,多饒財
寶倉庫盈溢。彼生此家,形容端正,人皆樂見、
眾共稱美,故名為白。如是白類,行身惡行、行
語惡行、行意惡行,由行三種惡行因緣,身壞
命終墮於惡趣,生地獄中受諸劇苦,是名白
生類補特伽羅生起黑法。云何白生類補特
伽羅生起非黑非白涅槃法?答:如有一類生
富貴家,謂剎帝利大族、或婆羅門大族、或長
者大族、或居士大族、或餘隨一富貴家生,多
饒財寶倉庫盈溢,故名為白。如是白類,聞有
如來為眾宣說如實所證法毘柰耶便往聽
受,既聽受已得淨信心。彼成如是淨信心故,
作是思惟:「居家迫迮譬如牢獄多諸塵穢;出
家寬廣猶若虛空,一切善法因之生長。」又作是
念:「耽著居家,彼尚不能恒修世善,況能盡命
精勤修學純一圓滿清白梵行。是故我應剃
除鬚髮、身被法服,正信捨家出趣非家,勤修
梵行。」既思念已,便於後時棄捨親財,剃除鬚
髮身被法服,正信捨家出趣非家,受持淨戒
精勤守護,別解脫律儀軌則所行無不具足,
於微小罪具大怖畏,受諸學處常無毀犯。依
斯戒蘊修根律儀,具念正知斷蓋證得四種
靜慮,由斯展轉乃至漏盡,得心解脫及慧解

脫,於現法中自證通慧,具足覺知:我生已盡、
梵行已立、所作已辦、不受後有,是名白生類
補特伽羅生起非黑非白涅槃法。
8 七法品1
七法品第八之一
時舍利子復告眾言:「具壽當知,佛於七法自
善通達,現等覺已,為諸弟子宣說開示。我等
今應和合結集,佛滅度後勿有乖諍,當令隨
順梵行法律久住,利樂無量有情,哀愍世間
諸天人眾,令獲殊勝義利安樂。」
七法云何?嗢
柁南曰:
支數具財力,非妙妙各二,
識住與隨眠,事止諍各七。
有七等覺支、七補特伽羅、七定具、七財七力、
七非妙法、七妙法、復有七非妙法、復有七妙
法、七識住、七隨眠、七無過失事、七止諍法。
七等覺支者,云何為七?答:一、念等覺支;二、擇
法等覺支;三、精進等覺支;四、喜等覺支;五、輕
安等覺支;六、定等覺支;七、捨等覺支。云何念
等覺支?答:諸聖弟子,於苦思惟苦、於集思惟
集、於滅思惟滅、於道思惟道,無漏作意相應
諸念隨念,廣說乃至心明記性,是名念等覺
支。云何擇法等覺支?答:諸聖弟子,於苦思惟
苦、於集思惟集、於滅思惟滅、於道思惟道,無
漏作意相應諸簡擇法,廣說乃至毘鉢舍那,
是名擇法等覺支。云何精進等覺支?答:諸聖
弟子,於苦思惟苦、於集思惟集、於滅思惟滅、
於道思惟道,無漏作意相應諸勤精進,廣說
乃至勵意不息,是名精進等覺支。云何喜等
覺支?答:諸聖弟子,於苦思惟苦、於集思惟集、

於滅思惟滅、於道思惟道,無漏作意相應心
欣、極欣、數欣、欣性欣類、適意悅意可意、踊躍
非不踊躍、悅受適悅、調柔性堪任性、歡悅歡
悅性、歡喜歡喜性,是名喜等覺支。云何輕安
等覺支?答:諸聖弟子,於苦思惟苦、於集思惟
集、於滅思惟滅、於道思惟道,無漏作意相應
身輕安心輕安、輕安性輕安類,是名輕安等
覺支。云何定等覺支?答:諸聖弟子,於苦思惟
苦、於集思惟集、於滅思惟滅、於道思惟道,
無漏作意相應心住等住,廣說乃至心一
境性,是名定等覺支。云何捨等覺支?答:諸聖
弟子,於苦思惟苦、於集思惟集、於滅思惟滅、
於道思惟道,無漏作意相應心平等性、心正
直性、心無警覺寂靜住性,是名捨等覺支。
七補特伽羅者,云何為七?答:一、隨信行補特
伽羅;二、隨法行補特伽羅;三、信勝解補特伽
羅;四、見至補特伽羅;五、身證補特伽羅;六、慧
解脫補特伽羅;七、俱分解脫補特伽羅。云何
隨信行補特伽羅?答:此隨信行補特伽羅,先
凡位中稟性多信,多愛多淨多勝解多慈愍,
少思惟少稱量少觀察少簡擇少推求。彼由
多信多愛多淨多勝解多慈愍故,得遇如來
或佛弟子,宣說正法教授教誡。由遇如來或
佛弟子宣說正法教授教誡,以無量門分別
開示,苦真是苦、集真是集、滅真是滅、道真是
道。便作是念:「善哉善哉!所言諦實定不虛妄。
苦真是苦、集真是集、滅真是滅、道真是道。我
於今者應懃觀察,諸行無常有漏行苦,一切
法空無我。」作是念已遂勤觀察,諸行無常有

漏行苦,一切法空無我。由勤觀察諸行無常
有漏行苦、一切法空無我故,便於後時後分
修得世第一法。從此無間生苦法智忍,相應
聖道觀欲界行,為無常或苦或空或無我,隨
一現前乃至未起道類智現在前,爾時名隨
信行。是名隨信行補特伽羅。云何隨法行補
特伽羅?答:此隨法行補特伽羅,先凡位中稟
性多思惟多稱量多觀察多簡擇多推求,少
信少愛少淨少勝解少慈愍。彼由多思惟多
稱量多觀察多簡擇多推求故,得遇如來或
佛弟子,宣說正法教授教誡。由遇如來或佛
弟子宣說正法教授教誡,以無量門分別開
示,苦真是苦、集真是集、滅真是滅、道真是道。
便作是念:「善哉善哉!所言諦實定不虛妄。苦
真是苦、集真是集、滅真是滅、道真是道。我於
今者應自審知、應自審見、應自審察,諸行無
常有漏行苦、一切法空無我。」作是念已便自
審察,諸行無常有漏行苦、一切法空無我。由
自審察諸行無常有漏行苦、一切法空無我故,
便於後時後分修得世第一法。從此無間生
苦法智忍,相應聖道觀欲界行,為無常或苦
或空或無我,隨一現前乃至未起道類智現
在前,爾時名隨法行。是名隨法行補特伽羅。
云何信勝解補特伽羅?答:即隨信行補特伽
羅,得道類智故,捨隨信行性入信勝解數,是
名信勝解補特伽羅。云何見至補特伽羅?答
即隨法行補特伽羅,得道類智故,捨隨法行
性入見至數,是名見至補特伽羅。云何身證
補特伽羅?答:若補特伽羅,雖於八解脫身已

證具足住,而未以慧永盡諸漏,是名身證補
特伽羅。云何慧解脫補特伽羅?答:若補特
伽羅,雖於八解脫身未證具足住,而已以慧
永盡諸漏,是名慧解脫補特伽羅。云何俱分
解脫補特伽羅?答:若補特伽羅,於八解脫身
已證具足住,而復以慧永盡諸漏,是名俱解
脫分補特伽羅。問何故名俱分解脫補特伽
羅?答:有二分障,一、煩惱分障;二、解脫分障,是
名俱分。此補特伽羅於彼二分障,心俱解脫、
極解脫、永解脫,是名俱分解脫補特伽羅。
七
定具者,云何為七,答:一、正見;二、正思惟;三、正
語;四、正業;五、正命;六、正勤;七、正念。如是七
種即七道支,應如彼相一一別說,是名定具。
問何故名定具?答:定謂正定,由七道支資助
圍繞,令彼增盛具大勢力,自在運轉究竟圓
滿,故名定具。
七財者,云何為七?一者信財;二者戒財;三者
慚財;四者愧財;五者聞財;六者捨財;七者慧
財。云何信財?答:如世尊說:苾芻當知,有聖弟
子,於如來所修植淨信根生安住,不為沙門
或婆羅門或天魔梵或餘世間如法引奪,是
名信財。云何戒財?答:如世尊說:苾芻當知,
有聖弟子,離斷生命、離不與取、離欲邪行、
離虛誑語、離飲諸酒,是名戒財。云何慚財?答:
如世尊說:有具慚者,於可慚羞惡不善法,有
諸雜染能感後有、有極熾然苦異熟果、能引
後世生老死法,深起慚羞,是名慚財。云何愧
財?答:如世尊說:有住愧者,於可愧恥惡不善
法,有諸雜染能感後有、有極熾然苦異熟果、

能引後世生老死法,深生愧恥,是名愧財。云
何聞財?答:如世尊說:苾芻當知,有聖弟子,多
聞聞持其聞積集,謂佛所說無上法要,初中
後善文義巧妙,純一圓滿清白梵行。彼於如
是無上法要,具足多聞能持語義,極善通利
心無散亂見善通達,是名聞財。云何捨財?答:
如世尊說:苾芻當知,有聖弟子,於為慳垢
所纏眾中能離慳垢,雖住居家而心無著,能
行惠捨能舒手施,常樂棄捨好設祠祀,惠捨
具足,於行施時平等分布,是名捨財。云何慧
財?答:如世尊說:苾芻當知,有聖弟子,能如實
知,此是苦聖諦、此是苦集聖諦、此是苦滅聖
諦、此是趣苦滅道聖諦,是名慧財。此中世尊
說伽他曰:
「男子或女人,具信戒慚愧,
聞捨慧財者,真富貴應知。
我說彼大士,不虛度一生,
常在天人中,受富貴妙樂。」
七力者,云何為七?答:一、信力;二、精進力;三、慚
力;四、愧力;五、念力;六、定力;七、慧力。云何信
力?答:如世尊告諸苾芻言:有聖弟子,於如來
所修植淨信,乃至廣說,是名信力。云何精進
力?答:如世尊說:為令已生惡不善法斷故起
欲,乃至廣說四種正勝,是名精進力。云何慚
力?答:如世尊說:有具慚者:於可慚羞惡不善
法:乃至廣說:是名慚力。云何愧力?答:如世尊
說:有住愧者,於可愧恥惡不善法,乃至廣說,
是名愧力。云何念力?答:如世尊說,於此內身
住循身觀,乃至廣說四種念住,是名念力。云

何定力?答:如世尊說:離欲惡不善法,有尋有
伺離生喜樂初靜慮具足住,廣說乃至第四
靜慮具足住,是名定力。云何慧力?答:如世尊
告諸苾芻言:有聖弟子,能如實知此是苦聖
諦,乃至廣說,是名慧力。此中世尊說伽他
曰:
「若有諸苾芻,具信勤慚愧,
及念定慧力,速得盡眾苦。」

Việt dịch

QUYỂN 16
Phẩm 7: SÁU PHÁP, Phần 2
Có sáu thứ tưởng thuận phần minh: 
1. Tưởng vô thường. 
2. Tưởng vô thường khổ. 
3. Tưởng khổ vô ngã. 
4. Tưởng chán ăn. 
5. Tưởng tất cả thế gian không thể vui. 
6. Tưởng về chết.
Năm tưởng trong đây thì đã nói rõ trong tưởng thành thục giải 
thoát trước đây rồi (nay không nói lại).
Hỏi: Thế nào là tưởng tất cả thế gian chẳng thể vui?
Đáp: Thế gian tức là năm thủ uẩn, tức sắc uẩn v.v... đến thức thủ 
uẩn. Như có các vị Bí-sô đối với năm thứ thủ uẩn nầy mà luôn khởi ý 
nghĩ tìm hiểu xét lường thì thấy đáng sợ hãi, thấy chẳng đáng yêu mến, 
cũng chẳng đáng vui mừng chi. Khi suy nghĩ đến năm uẩn thì luôn thấy 
các tưởng như thế ngay ở trước mắt trong hiện tại, đã qua hay sắp tới... 
Thế nên gọi là tưởng tất cả thế gian không thể vui.
Hỏi: Vì sao lại nói tưởng thuận phần sáng?
Đáp: Minh, có ba thứ minh: 
1. Vô học túc trụ trí chứng minh. 
2. Vô học sinh tử trí chứng minh. 
3. Vô học lậu tận trí chứng minh. 
Do sáu tưởng trước đó, nếu ai thấy ba minh nầy chưa sinh thì hãy 
khiến chúng phát sinh, nếu đã sinh rồi thì nên khiến chúng càng lớn 
rộng hơn. Nên nói là tưởng thuận phần minh.
Có sáu thứ tùy niệm: 

===== PAGE 253 =====
SỐ 1536 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA TẬP DỊ MÔN TÚC - Quyển 16 253
1. Tùy niệm Phật. 
2. Tùy niệm Pháp. 
3. Tùy niệm Tăng. 
4. Tùy niệm giới. 
5. Tùy niệm xả. 
6. Tùy niệm thiên.
- Thế nào là tùy niệm Phật?
Đáp: Như Đức Thế Tôn nói: Các thầy Bí-sô nên biết! Các hàng đệ 
tử Phật ở chỗ Thế Tôn do tướng như thế nầy mà theo đó nghĩ nhớ đến 
chư Phật như: Đức Thế Tôn đầy chính là Như Lai A-la-hán, rộng nói cho 
đến là Phật, Bạc-già-phạm. Nếu các hàng đệ tử Phật từ tướng như thế, 
tùy theo đó nghĩ nhớ đến chư Phật bằng thấy biết làm căn bản, tương 
ưng với chánh trí. Các niệm như niệm tùy theo, niệm riêng biệt, niệm 
nhớ nghĩ. Tính chất của ý niệm, tính chất của tùy niệm (sự nghĩ nhớ 
theo) tính chất của sự nghĩ nhớ riêng rẽ (biệt niệm), tính chất sự chẳng 
quên, tánh chẳng quên các giáo pháp, tâm sáng suốt, tánh ghi nhớ rõ 
ràng..., đó là tùy niệm Phật.
- Thế nào là tùy niệm pháp?
Đáp: Như Đức Thế Tôn có nói: Quý vị Bí-sô nên biết! Có các 
hàng đệ tử Đức Phật do tướng như thế mà tùy theo nghĩ nhớ đến chánh 
pháp tức là chánh pháp do Phật đã khéo léo trình bày diễn giảng cho 
đến bậc trí đã được nội chứng... Nếu các hàng đệ tử Phật do tướng như 
thế mà tùy theo đó mà nghĩ nhớ đến chánh pháp. Do thấy biết làm căn 
bản, cùng với chứng trí tương ưng nhau... Rộng nói như trước. Đó là tùy 
niệm pháp.
- Thế nào là tùy niệm Tăng?
Đáp: Như Thế Tôn có nói: Quý vị Bí-sô nên biết! Có các hàng 
đệ tử Phật do tướng như thế mà tùy theo nghĩ nhớ đến chư Tăng, đó 
là những hàng đệ tử Phật đầy đủ các hạnh diệu. Rộng nói cho đến là 
phước điền vô thượng ở thế gian đáng được cúng dường. Nếu các hàng 
đệ tử Phật theo tướng như thế mà nghĩ nhớ đến chư Tăng. Do thấy biết 
làm căn bản cùng chứng trí tương ưng nhau... Rộng nói như trước. Đó là 
tùy niệm Tăng.
- Thế nào là tùy niệm giới?
Đáp: Như Thế Tôn có nói: Quý vị Bí-sô nên biết! Các hàng đệ tử 
Phật do tướng như thế mà tùy theo đó nghĩ nhớ đến giới hạnh của mình, 
như là giới hạnh nầy thanh tịnh không hề thiếu sót... Rộng nói cho đến 
các bậc trí luôn khen ngợi không hề quở trách chê bai. Nếu các hàng 

===== PAGE 254 =====
254 BỘ TỲ ĐÀM 1
đệ tử Phật do tướng như thế mà theo đó nghĩ nhớ đến các giới hạnh của 
mình. Do thấy biết làm căn bản, cùng với chứng trí tương ưng nhau. 
Rộng nói như trước, đó là tùy niệm giới.
- Thế nào là tùy niệm xả?
Đáp: Như Thế Tôn có nói: Quý vị Bí-sô nên biết! Các hàng đệ tử 
Phật do tướng như thế mà tùy theo đó nghĩ nhớ đến sự buông xả của 
mình. Như bảo: Tôi hiện nay không còn mê đắm của cải tiền bạc nữa. 
Đối với tật xấu tham lam keo kiệt buộc chặt mọi người thì tôi đã lìa bỏ 
được nó, tâm tôi không còn đam mê vướng víu nữa. Hãy dang rộng tay 
mà bố thí ban tặng tất cả những tiền bạc của cải có được cho mọi người. 
Buông bỏ tài sản tiền của không một chút tiếc nuối đoái hoài. Phân chia 
tiền của ban tặng khắp nơi lòng không thiên lệch phe phái... Nếu các 
hàng đệ tử Phật nên với cái tướng như thế mà theo đó nhớ nghĩ tới sự 
buông xả của mình. Do thấy biết làm căn bản cùng với chứng trí tương 
ưng nhau. Rộng nói như trước. Đó là tùy niệm xả.
- Thế nào là tùy niệm các cõi trời?
Đáp: Như Thế Tôn có nói: Quý vị Bí-sô nên biết! Các hàng đệ tử 
Phật do tướng như thế mà tùy theo đó nghĩ nhớ đến các cõi trời. Như 
có chúng trời Tứ Đại vương, có trời Ba Mươi Ba... Trong đó có các cõi 
như cõi trời Dạ-ma, cõi trời Đổ-sử-đa, cõi trời Lạc-biến-hóa, cõi trời 
Tha-hóa-tự-tại. Nếu người nào đã thành tựu được tín giới không điên 
đảo và nghe học được trí tuệ buông xả (xả tuệ) thì sau khi chết đã được 
sinh lên cõi trời đó. Tôi cũng thành tựu được tín giới không điên đảo, đã 
nghe học được khéo léo xả tuệ, vì sao tôi chẳng được sinh lên cõi trời 
đó? Nếu các đệ tử Phật do tướng như thế theo đó mà nghĩ nhớ đến các 
cõi trời. Do thấy biết làm căn bản, cùng với chứng trí tương ưng nhau. 
Các niệm liên tục, niệm riêng biệt, niệm nghĩ nhớ, tánh niệm, tánh tùy 
niệm, tánh nghĩ riêng biệt, tánh không lãng quên, tánh không lãng quên 
chánh pháp, tánh tâm sáng suốt ghi nhớ lâu... Đó là tùy niệm thiên hay 
các cõi trời.
Có sáu pháp vô thượng: 
1. Thấy vô thượng. 
2. Nghe vô thượng. 
3. Lợi vô thượng. 
4. Học vô thượng. 
5. Hành vô thượng. 
6. Niệm vô thượng. 
- Thế nào là thấy vô thượng?

===== PAGE 255 =====
SỐ 1536 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA TẬP DỊ MÔN TÚC - Quyển 16 255
Đáp: Như Thế Tôn có nói: Quý vị Bí-sô nên biết! Như có một số 
Bổ-đặc-già-la đến ngắm xem các vòng báu, voi báu, ngựa báu, ngọc 
châu báu, nữ báu, chủ kho tàng, quan báu, vua chúa, binh lính, quan hầu 
quý báu... Hoặc lại đến viếng thăm nhìn ngắm hoặc Sa-môn hay Bà-
la-môn có tà kiến và hạnh tà kiến..., thì ta bảo số Bổ-đặc-già-la đó tuy 
là có thấy chứ không phải chẳng thấy. Nhưng đó là cái thấy thấp hèn 
có bản tánh của hàng phàm phu dị sinh chứ không phải của bậc Thánh 
hiền, còn như những kẻ có tu hành, có gieo trồng sự tín, ái thanh tịnh 
và đến thăm viếng nhìn xem Như Lai và các đệ tử Phật, ta nói số người 
đó có cái thấy vô thượng, vì có thể tự gây được lợi ích cho mình và giúp 
mình được an lạc. Cũng khiến cho tự thân mình được yên ổn, vượt ra 
khỏi các tai nạn sầu khổ, diệt tan hết các sự đau buồn và nhanh chóng 
chứng được các pháp yếu đúng lý. Đó gọi là thấy vô thượng.
- Thế nào là nghe vô thượng?
Đáp: Như Thế Tôn có nói: Quý thầy Bí-sô nên biết! Như có một 
số Bổ-đặc-già-la đến nghe các thứ tiếng của voi, tiếng ngựa, tiếng xe 
chạy, tiếng bước chân đi, tiếng thổi tù và, tiếng trống lớn bé, tiếng kêu 
gọi, tiếng ca hát, tiếng đàn hát âm nhạc. Hoặc đến nghe Sa-môn, hoặc 
Bà là môn phát khởi tà kiến và hạnh tà kiến, nói các pháp tà, thì ta bảo 
rằng số Bổ-đặc-già-la đó tuy là có nghe chứ chẳng phải không nghe. 
Nhưng đó là cái nghe thấp hèn có tự tánh của phàm phu dị sinh chứ 
không phải là của Thánh hiền. Còn như những người có tu hành, biết 
gieo trồng sự tín, ái thanh tịnh đến thăm viếng nghe Như Lai và các đệ 
tử Phật diễn nói chánh pháp. Ta bảo số người đó có cái nghe vô thượng, 
vì có thể tự gây được lợi ích cho mình... Rộng nói cho đến nhanh chóng 
chứng được các pháp yếu đúng lý. Đó gọi là nghe vô thượng.
- Thế nào là lợi vô thượng?
Đáp: Như Thế Tôn có nói: Quý thầy Bí-sô nên biết! Như có một 
số Bổ-đặc-già-la, hoặc có được vợ con hoặc có nhiều ngọc quý, tiền 
bạc hay lúa thóc, hoặc nhiều bạn bè thân hữu. Hoặc đối với Sa-môn 
hay Bà-la-môn có phát khởi tà kiến và hạnh tà kiến và số người đó lại 
tin yêu sâu xa, thì ta bảo rằng số Bổ-đặc-già-la đó tuy gọi là được lợi 
nhưng không phải là được lợi, mà đó là lợi thấp hèn của phàm phu dị 
sinh, chứ không phải là lợi của bậc Thánh hiền. Còn như những người 
có tu hành, biết gieo trồng sự tín ái thanh tịnh lại hay đến chỗ Như Lai 
và các đệ tử Phật mà sinh lòng tin tưởng ái mộ sâu xa, thì ta bảo rằng 
số người đó được cái lợi vô thượng vì có thể gây được ích lợi cho mình. 
Rộng nói cho đến nhanh chóng chứng được các pháp yếu đúng lý. Đó 

===== PAGE 256 =====
256 BỘ TỲ ĐÀM 1
gọi là lợi vô thượng.
- Thế nào là học vô thượng?
Đáp: Đức Thế Tôn có nói: Quý thầy Bí-sô nên biết! Như có một 
số Bổ-đặc-già-la, hoặc học cỡi voi, cỡi ngựa, hoặc học bắn cung, phóng 
tên, hoặc học cầm câu móc, hoặc cầm dây, cầm thẻ bài hoặc học lên xe 
hay xuống xe, hoặc học phóng chạy hay nhảy xa, nhảy cao, hoặc học 
viết sách, số học, tính toán, toán số v.v... Hoặc học với Sa-môn hay Bà-
la-môn có tà kiến và tà hạnh lấy đó đem ra dạy học..., thì ta bảo rằng số 
Bổ-đặc-già-la đó tuy có chỗ học chớ không phải không học, nhưng đó 
là cái học có tự tánh thấp hèn của phàm phu dị sinh chứ không phải cái 
học của các bậc Thánh hiền. Còn như những kẻ có tu hành, gieo trồng 
sự tín ái thanh tịnh, thường hay học các môn học của Như Lai và các 
đệ tử Phật đã học. Ta bảo rằng số người đó có cái học vô thượng, vì có 
thể tự gây được ích lợi cho mình. Rộng nói cho đến nhanh chóng chứng 
được các pháp yếu đúng lý. Đó là học vô thượng.
- Thế nào là hành vô thượng?
Đáp: Đức Thế Tôn có nói: Quý thầy Bí-sô nên biết! Như một số 
Bổ-đặc-già-la, hoặc làm việc điều phục huấn luyện voi, ngựa, hoặc làm 
việc luyện người, luyện trâu, hoặc làm các việc thờ lửa, hoặc thờ mặt 
trăng, thờ mặt trời, thờ thuốc, thờ ngọc châu, thờ tinh tú, thờ cung điện 
v.v... các việc hoặc làm Sa-môn, Bà-la-môn có tà kiến và hạnh tà kiến 
và đến xin thọ học làm việc đó... Ta bảo rằng số Bổ-đặc-già-la đó tuy 
là có việc chứ chẳng phải không làm. Nhưng đó là việc làm có tự tánh 
thấp hèn của dị sinh phàm phu chứ không phải của bậc Thánh hiền. Còn 
như có những người có tu hành, gieo trồng sự tín ái thanh tịnh, thường 
hay làm những việc làm của Như Lai và các đệ tử Phật đã làm. Ta bảo 
rằng số người nầy có sự làm việc (hành) vô thượng, vì có thể tự gây 
được lợi ích cho mình. Rộng nói cho đến nhanh chóng chứng được các 
pháp yếu đúng lý. Đó là hành vô thượng.
- Thế nào là niệm vô thượng?
Đáp: Đức Thế Tôn có nói: Quý thầy Bí-sô nên biết! Như có một 
số Bổ-đặc-già-la hoặc nhớ nghĩ vợ con hay tiền của lúa thóc, hoặc nghĩ 
nhớ bạn bè, hoặc nghĩ nhớ Sa-môn hay Bà-la-môn là những kẻ có tà 
kiến và hạnh tà kiến (làm việc tà kiến) và phép tà của họ. Ta bảo rằng 
số Bổ-đặc-già-la đó tuy có nhớ nghĩ chứ chẳng phải không nhớ nghĩ. 
Nhưng đó là sự nhớ nghĩ có tự tánh thấp hèn của phàm phu dị sinh chứ 
không phải của bậc Thánh hiền. Còn như những kẻ có tu hành, gieo 
trồng sự tín ái thanh tịnh, thường hay nghĩ nhớ đến Như Lai và các vị đệ 

===== PAGE 257 =====
SỐ 1536 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA TẬP DỊ MÔN TÚC - Quyển 16 257
tử Phật. Ta bảo số người nầy có sự nghĩ nhớ (niệm) vô thượng, vì có thể 
tự gây được sự lợi ích cho mình, có thể tự giúp mình được an lạc, cũng 
có thể khiến tự thân mình luôn được an ổn mà sống. Và vượt thoát khỏi 
tai nạn của sấu lo, diệt trừ dứt hết các lo buồn khổ não. Nhanh chóng 
chứng được các pháp yếu đúng lý. Đó là niệm vô thượng.
Đức Thế Tôn nói bài kệ:
Nếu được lìa tương ưng
An ổn thấy vô thượng
Nghe, lợi, học, làm, nhớ
Tất đến được không sầu.
Có sáu pháp quán đãi (Quán đối): 
1. Quán đãi sắc. 
2. Quán đãi thanh. 
3. Quán đãi hương. 
4. Quán đãi vị. 
5. Quán đãi xúc. 
6. Quán đãi pháp.
Hỏi: Thế nào là quán đãi sắc?
Đáp: Nếu thứ sắc hữu lậu có chấp trước, với các sắc nầy ở các 
thời, hoặc quá khứ, vị lai hoặc hiện tại, hoặc có dục, hoặc tham, hoặc 
sân, hoặc si, hoặc tùy mỗi mỗi tâm sở và tùy phiền não mà đúng lúc 
sinh ra... Thì đó gọi là quán đãi sắc.
Các thứ: thanh, hương, vị, xúc, pháp cũng như thế.
Hỏi: Thế nào là quán đãi?
Đáp: Nếu như pháp hữu lậu có chấp trước, thì đối với các pháp đó 
hoặc ở quá khứ, hoặc vị lai hay ở hiện tại, hoặc có dục, hoặc tham, hoặc 
sân hay si, hoặc tùy mỗi mỗi tâm sở hay tùy phiền não mà đúng lúc sinh 
ra, thì đó gọi là quán đãi.
Có sáu loại sinh: 
1. Có loại Bổ-đặc-già-la đời đen sinh pháp đen. 
2. Có loại Bổ-đặc-già-la đời đen sinh pháp trắng. 
3. Có loại Bổ-đặc-già-la đời đen sinh pháp Niết-bàn không đen 
không trắng. 
4. Có loại Bổ-đặc-già-la đời trắng sinh pháp trắng. 
5. Có loại Bổ-đặc-già-la đời trắng sinh pháp đen. 
6. Có loại Bổ-đặc-già-la đời trắng sinh pháp Niết-bàn không đen 
không trắng.
- Thế nào là loại Bổ-đặc-già-la đời đen sinh pháp đen?

===== PAGE 258 =====
258 BỘ TỲ ĐÀM 1
Đáp: Như có một số người sinh vào một số nhà nghèo hèn bần 
tiện gọi là chiên đà la... Rộng nói cho đến như nhà nghèo thiếu ăn thiếu 
mặc. Người nầy sinh vào nhà đó, hình dung xấu xí, không ai thích nhìn, 
mọi người cùng khinh ghét. Phần lớn đều làm mướn cho kẻ khác, bất 
cứ việc gì. Cho nên gọi là đen, và từ loại đen như thế, họ lại tạo ra các 
nghiệp xấu ác về thân, ngữ, ý. Đến khi chết rồi thì bị đọa vào các đường 
dữ nên phải sinh vào chốn địa ngục để chịu bao đau khổ cùng cực. Nên 
gọi là loại Bổ-đặc-già-la đời đen sinh pháp đen.
2. Thế nào là loại Bổ-đặc-già-la đời đen sinh pháp trắng?
Đáp: Như có một số người sinh vào nhà nghèo hèn bần tiện, gọi là 
nhà chiên trà la, rộng nói là nhà nghèo thiếu ăn, thiếu mặc. Người nầy 
sinh vào chốn ấy, hình dung xấu xí, không ai thích nhìn lại hay quở trách 
chê trách. Phần lớn đều phải làm mướn cho kẻ khác, bất cứ việc gì, nên 
gọi là đen. Nhưng người nầy lại biết tạo ra các hạnh nghiệp tốt lành về 
thân, ngữ, ý. Do nhân duyên ba nghiệp thiện đó nên sau khi chết rồi 
được sinh vào cõi thiện, ở trong các cõi trời mà hưởng bao điều vui thú 
tuyệt diệu. Đó gọi là loại Bổ-đặc-già-la đời đen mà sinh pháp trắng.
3. Thế nào là loại Bổ-đặc-già-la đời đen mà sinh ra pháp Niết-bàn 
không đen, không trắng?
Đáp: Như có một số người sinh vào nhà nghèo hèn bần khổ, gọi 
là nhà Chiên-trà-la. Rộng nói như là nhà thiếu ăn, thiếu mặc. Người 
nầy sinh vào chốn ấy hình dung xấu xí, không ai thích nhìn lại còn quở 
trách chửi mắng. Phần lớn đều phải làm mướn cho kẻ khác bất cứ việc 
gì, nên gọi là đen. Với cuộc đời đen đúa buồn thảm như thế, người nầy 
nghe biết Đức Như Lai vì mọi chúng sinh giảng dạy các chứng pháp như 
thật Tỳ-nại-da liền đến nghe pháp. Sau khi nghe rồi sinh lòng tin tưởng 
thanh tịnh. Với tâm tịnh tín đó, người ấy suy nghĩ thấy rằng ở nhà biết 
bao sự ràng buộc bức bách, khác nào chốn lao tù với biết bao phiền toái 
lo toan khổ não. Còn thoát khỏi gia đình thì khác nào phóng mình vào 
chốn hư không mênh mông bát ngát, tự do thoải mái và tất cả các nhân 
pháp thiện sẽ nảy sinh lớn mạnh. Lại nghĩ cứ mãi bận bịu gia đình thì 
chẳng còn rãnh rang mà tu ít pháp thiện ở đời, huống hồ là đem hết cả 
cuộc đời mình siêng năng chuyên cần tu học thuần nhất vẹn toàn một 
cuộc sống phạm hạnh trong trắng. Vậy thì, ta cần nên cạo bỏ râu tóc, 
mình mặc pháp phục với lòng chánh tín mạnh mẽ đưa thân vào cuộc 
sống không nhà, siêng năng tu tập phạm hạnh. Sau khi nghĩ kỹ, anh ta 
liền quyết ý xa bỏ hết sự sản, tiền bạc và người thân, cạo bỏ râu tóc, 
mình mặc pháp y, lòng tin vững chắc, sống kiếp thênh thang không bận 

===== PAGE 259 =====
SỐ 1536 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA TẬP DỊ MÔN TÚC - Quyển 16 259
bịu gia đình xin thọ trì giới pháp ngày đêm siêng năng chuyên cần giữ 
gìn giới hạnh giải thoát đặc biệt. Tất cả các quy điều phép tắc tuân hành 
nghiêm ngặt. Dù một lỗi nhỏ cũng hết sức áy náy lo âu. Luôn đến tìm 
học ở mọi nơi không hề trái phạm. Tuân giữ các giới hạnh sâu kín siêng 
năng tu giới luật..., dần dần chứng được Tứ thiền. Do vì tâm định nên 
các lậu dứt hết. Nên chứng được tuệ tâm giải thoát vô lậu. Rộng nói cho 
đến không còn phải nhận thân đời sau nữa. Thế nên gọi là loại Bổ-đặc-
già-la đời đen mà sinh pháp Niết-bàn không đen không trắng.
4. Thế nào là loại Bổ-đặc-già-la đời trắng sinh pháp trắng?
Đáp: Như có một số người sinh vào nhà giàu sang như các loại giai 
cấp lớn của các hàng Sát đế lỵ, Bà-la-môn hay các dòng dõi lớn như 
Trưởng giả, cư sĩ, hoặc sinh vào một gia đình giàu có sang trọng nào 
khác, nhiều tiền lắm của, kho tàng đầy ấp. Người nầy sinh vào chốn ấy, 
hình dạng đẹp đẽ, uy nghi ai cũng thích nhìn, mọi người đều kính trọng 
khen tốt. Nên gọi là trắng. Với cuộc đời sáng tươi trắng trẻo như thế, 
anh ta lại gây tạo các hạnh nghiệp tốt lành về thân, ngữ, ý. Do nhân 
duyên ba nghiệp thiện đó, nên sau khi chết thì được sinh vào các đường 
thiện, ở trong các cõi trời mà hưởng mọi phước báu vui thú tuyệt diệu. 
Thế nên gọi là loại Bổ-đặc-già-la đời trắng sinh pháp trắng.
5. Thế nào là loại Bổ-đặc-già-la đời trắng sinh pháp đen?
Đáp: Như có một số người sinh vào nhà giàu sang quyền quý như 
các giai cấp lớn của các hàng Sát đế lỵ, Bà-la-môn hay các dòng dõi 
cao sang của Trưởng giả, cư sĩ hoặc một loại gia thế giàu có sang trọng 
nào khác, lắm tiền nhiều của, kho lãm đầy ấp. Người đó sinh vào chốn 
ấy hình dung đẹp đẽ uy nghi ai cũng thích ngắm nhìn, khen ngợi là tốt. 
Cho nên gọi là trắng. Với cuộc đời sáng tươi trắng trẻo như thế, anh ta 
lại gây tạo ra các hạnh nghiệp xấu ác về thân, ngữ, ý. Do nhân duyên 
ba nghiệp xấu ác nầy nên sau khi chết rồi phải đọa vào các đường dữ, 
ở trong địa ngục chịu bao nhiêu khốn khổ cực hình. Đó gọi là loại Bổ-
đặc-già-la đời trắng mà sinh pháp đen.
6. Thế nào là loại Bổ-đặc-già-la đời trắng mà sinh pháp Niết-bàn 
không đen không trắng?
Đáp: Như có một số người được sinh vào nhà giàu sang quyền 
quý như các giai cấp lớn của các hàng Sát-đế-lợi, Bà-la-môn hoặc các 
dòng dõi lớn, như trưởng giả, cư sĩ hay một loại gia thế giàu có sang 
trọng nào khác, lắm tiền nhiều của kho tàng đầy ấp..., nên gọi là trắng. 
Với cuộc đời sáng tươi trắng trẻo như thế, người nầy nghe đồn có Đức 
Như Lai diễn giảng đúng như thật các chứng pháp Tỳ-nại-da, liền đến 

===== PAGE 260 =====
260 BỘ TỲ ĐÀM 1
nghe pháp. Khi đã nghe xong liền được tín tâm thanh tịnh. Người nầy 
đã thành tựu được lòng tin tưởng thanh tịnh rồi thì tự nghĩ ở nhà sẽ gặp 
biết bao sự ràng buộc bức bách khác nào chốn lao tù với bao nhiêu lo 
toan phiền toái khổ não. Còn thoát khỏi gia đình thì khác chi phóng 
mình giữa chốn hư không mênh mông tự tại và các nhân của pháp thiện 
sẽ nảy sinh và lớn mạnh. Lại nghĩ cứ mãi bận bịu vướng víu gia đình thì 
chẳng còn rãnh rang mà tu chút ít pháp thiện ở đời, huống hồ là dành 
cả cuộc đời mình để siêng năng chuyên cần tu học thuần nhất một cuộc 
sống phạm hạnh trong trắng. Vậy thì ta cần nên cạo bỏ râu tóc, mặc 
pháp ý. Với lòng chánh tín mạnh mẽ, ta sống một cuộc sống không nhà, 
siêng gắng tu tập phạm hạnh. Sau khi nghĩ kỹ anh ta liền quyết ý từ bỏ 
tất cả tài sản tiền bạc, người thân thích, cạo bỏ râu tóc, mặc pháp y, 
lòng tin vững chắc, sống kiếp thênh thang không bận bịu gia đình. Xin 
thọ trì giới pháp, ngày đêm siêng năng chuyên cần giữ gìn giới hạnh về 
giải thoát đặc biệt. Tất cả quy điều phép tắc tuân giữ nghiêm ngặt dù 
một lỗi nhỏ cũng hết sức áy náy âu lo, luôn đến tìm học ở mọi nơi không 
hề trái phạm. Luôn giữ gìn các giới hạnh sâu kín siêng tu giới luật, đến 
khi đầy đủ các niệm chánh tri thấy biết đúng thực diệt hết sự ngăn che, 
chứng được Tứ thiền. Do đó dần dần đến khi các lậu dứt hẳn, chứng 
được tâm giải thoát, và tuệ giải thoát. Ngay trong hiện đời được chứng 
các thông tuệ hiểu đầy đủ: Đời sống ta đã hết, phạm hạnh đã lập, việc 
làm đã xong, không nhận thân đời sau nữa. Đó gọi là loại Bổ-đặc-già-la 
đời trắng mà sinh pháp Niết-bàn không đen không trắng.
---------------
Phẩm 8: BẢY PHÁP, Phần 1
Bấy giờ, Tôn giả Xá-lợi-tử lại bảo đại chúng: Quý thầy nên biết! 
Có bảy pháp Đức Phật hiểu biết rất đầy đủ rõ ràng, thấu suốt mọi lẽ rồi 
đem ra giảng dạy chỉ bày cho hàng đệ tử của Ngài. Nay chúng ta cần 
nên hòa hợp kết tập ôn lại, để sau khi Đức Phật diệt độ thì không có sự 
tranh cãi. Chúng ta cũng nên cùng nhau tu phạm hạnh tuân giữ giới luật 
để tạo lợi ích lâu dài cho vô lượng chúng hữu tình. Hãy xót thương hàng 
trời, người trong cõi thế gian, khiến họ hưởng nhận được nhiều lợi ích 
an lạc cao quý. Bảy pháp là gì? Bài kệ (Ốt-đà-nam) nói:
Các chi - cụ - tài - lực
Diệu, phi diệu hai thứ
Thức trụ và tùy miên
Sự không tranh gồm bảy.

===== PAGE 261 =====
SỐ 1536 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA TẬP DỊ MÔN TÚC - Quyển 16 261
Gồm có: Bảy thứ giác chi, bảy loại Bổ-đặc-già-la, bảy thứ định cụ, 
bảy thứ tài, bảy thứ lực, bảy không phải pháp diệu, bảy pháp diệu, bảy 
pháp không diệu thứ hai, bảy pháp diệu thứ hai, bảy thứ thức trụ, bảy 
thứ tùy miên, bảy sự không lầm lỗi, bảy pháp ngăn tranh cãi.
Có bảy giác chi: 
1. Niệm giác chi. 
2. Trạch pháp giác chi. 
3. Tinh tấn giác chi. 
4. Hỷ giác chi. 
5. Khinh an giác chi. 
6. Định giác chi. 
7. Xả giác chi.
- Thế nào là niệm giác chi?
Đáp: Các đệ tử Phật đối với khổ suy nghĩ xét tìm hiểu về khổ, đối 
với tập suy nghĩ xét tìm về tập, đối với diệt suy nghĩ xét tìm về diệt, đối 
với đạo suy nghĩ xét tìm về đạo vô lậu. Luôn tác ý tương ưng với các 
niệm tùy niệm..., rộng nói cho đến tâm sáng suốt ghi nhớ rõ ràng. Đó 
gọi là niệm giác chi.
- Thế nào là trạch pháp giác chi?
Đáp: Các hàng đệ tử của Phật, đối với khổ suy nghĩ tìm hiểu về 
khổ, đối với tập suy nghĩ tìm hiểu về tập. Đối với diệt suy nghĩ tìm hiểu 
về diệt. Đối với đạo suy nghĩ tìm hiểu về đạo vô lậu. Luôn tác ý tương 
ưng với sự tuyển chọn các pháp. Rộng nói cho đến Tỳ-bát-xá-na. Đó 
gọi là trạch pháp giác chi.
- Thế nào là tinh tấn giác chi?
Đáp: Các hàng đệ tử của Phật đối với khổ suy nghĩ tìm hiểu về 
khổ, đối với tập suy nghĩ tìm hiểu về tập. Đối với diệt suy nghĩ tìm hiểu 
về diệt, đối với đạo suy nghĩ tìm hiểu về đạo vô lậu. Luôn tác ý tương 
ưng với sự siêng năng chuyên cần. Rộng nói cho đến lòng luôn cố gắng 
hết sức không lơi lỏng. Đó gọi là tinh tấn giác chi.
- Thế nào là hỷ giác chi?
Đáp: Các hàng đệ tử của Phật đối với khổ suy nghĩ tìm hiểu về 
khổ, đối với tập suy nghĩ tìm hiểu về tập, đối với diệt suy nghĩ tìm hiểu 
về diệt, đối với đạo suy nghĩ tìm hiểu về đạo vô lậu. Tác ý tương ưng 
tâm vui rất vui tự tánh của vui, các loại vui mừng khoái chí, thích ý, thỏa 
lòng, mừng rỡ, cảm xúc vui mừng, vui thích, khoan khoái, thoải mái, 
khoái làm việc, mừng vui khoái trá v.v... Đó gọi là hỷ giác chi.
- Thế nào là khinh an giác chi?

===== PAGE 262 =====
262 BỘ TỲ ĐÀM 1
Đáp: Các hàng đệ tử của Phật, đối với khổ suy nghĩ tìm hiểu về 
khổ, đối với tập suy nghĩ tìm hiểu về tập, đối với diệt suy nghĩ tìm hiểu 
về diệt, đối với đạo suy nghĩ tìm hiểu về đạo vô lậu. Luôn tác ý tương 
ưng với sự khinh an của thân và của tâm, tính chất của khinh an, các loại 
khinh an. Đó gọi là khinh an giác chi.
- Thế nào là định giác chi?
Đáp: Các hàng đệ tử của Phật đối với khổ suy nghĩ tìm hiểu về 
khổ, đối với tập suy nghĩ tìm hiểu về tập, đối với diệt suy nghĩ tìm hiểu 
về diệt, đối với đạo suy nghĩ tìm hiểu về đạo vô lậu. Luôn tác ý tương 
ưng với chỗ trụ của tâm. Rộng nói cho đến tâm chuyên chú vào một 
cảnh. Đó gọi là định giác chi.
- Thế nào là xả giác chi?
Đáp: Các hàng đệ tử của Phật đối với khổ suy tư tìm hiểu về khổ, 
đối với tập suy tư tìm hiểu về tập, đối với diệt suy tư tìm hiểu về diệt, 
đối với đạo suy tư tìm hiểu về đạo vô lậu. Luôn tác ý tương ưng với sự 
bình đẳng, tâm ngay tánh thẳng, tâm không tìm biết tánh luôn trụ trong 
yên lặng tịch tĩnh. Đó gọi là xả giác chi.
Có bảy loại Bổ-đặc-già-la: 
1. Bổ-đặc-già-la tùy tín hành. 
2. Bổ-đặc-già-la tùy pháp hành. 
3. Bổ-đặc-già-la tín thắng giải. 
4. Bổ-đặc-già-la kiến chí. 
5. Bổ-đặc-già-la thân chứng. 
6. Bổ-đặc-già-la tuệ giải thoát. 
7. Bổ-đặc-già-la câu phần giải thoát.
- Thế nào là Bổ-đặc-già-la tùy tín hành?
Đáp: Loại Bổ-đặc-già-la (chúng sinh) tùy tín hành nầy, trước đây 
khi còn ở quả vị phàm phu thì có rất nhiều về các tánh: tinh tưởng, yêu 
mến, trong sạch thanh tịnh, hiểu biết và từ mẫn thương xót, nhưng lại có 
rất ít về suy tư so lường, quan sát, chọn lựa, suy tìm... Người nầy do có 
nhiều về tin tưởng kính mến thanh tịnh, hiểu biết và từ mẫn nên được 
gặp Như Lai và hàng đệ tử Phật giảng nói chánh pháp, dạy bảo truyền 
trao, khuyên răn... đem vô lượng pháp môn mà phân biệt chỉ bày. Khổ 
thì đúng là khổ, tập đúng là tập, diệt đúng là diệt, đạo đúng thực là đạo. 
Người nầy nghĩ: quý báu thay những lời giảng nói chắc thật nhất định 
không hư vọng hư vọng. Khổ tập diệt đạo đúng thực là khổ tập diệt 
đạo. Ta nay ân cần siêng năng quan sát về các hành là vô thượng, hành 
hữu lậu là khổ (hành khổ hữu lậu), tất cả các pháp đều là không và vô 

===== PAGE 263 =====
SỐ 1536 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA TẬP DỊ MÔN TÚC - Quyển 16 263
ngã. Nghĩ như thế rồi liền ân cần siêng năng quan sát các pháp vừa nói. 
Nên sau nầy chính mình tu tập liền được pháp bậc nhất trên đời (thế đệ 
nhất). Từ đó luôn không gián đoạn sinh được trí nhẫn khổ pháp, tương 
ưng Thánh đạo mà quan sát các hoạt động ở cõi Dục nầy là vô thường, 
khổ, không, vô ngã... tùy theo mỗi thứ thấy rõ trước mặt. Cho đến khi 
dù chưa khởi ý nghĩ về đạo, thì trí đã hiện ra trước mặt. Như thế, khi đó 
gọi là tùy tín hành (do lòng tin mà tu hành). Nên gọi là loại Bổ-đặc-già-
la tùy tín hành.
- Thế nào là Bổ-đặc-già-la tùy pháp hành?
Đáp: Loại Bổ-đặc-già-la tùy pháp hành nầy, trước đây khi còn ở 
ở quả vị phàm phu thì bẩm tánh có nhiều sự suy tư, suy lường quan sát, 
chọn lựa, xét tìm nhưng lại rất ít lòng tin sự ái mộ, ít thanh tịnh, hiểu 
biết và từ mẫn. Do vì có nhiều suy tư so lường, quan sát, chọn lựa, xét 
tìm nên được gặp Như Lai và hàng đệ tử Phật diễn giảng chánh pháp, 
dạy bảo truyền trao, khuyên răn dùng vô lượng pháp môn mà phân biệt 
chỉ bày rằng: Khổ đúng thực là khổ, tập đúng thực là tập, diệt đúng thực 
là diệt, đạo đúng thực là đạo. Người nầy nghĩ: Thật là quý hóa, những 
điều nói ra đó chắc chắn đúng thực nhất định không hư vọng hư vọng ấy 
là khổ tập diệt đạo đúng thực là khổ tập diệt đạo. Ta nay ân cần siêng 
năng quan sát về các hành là vô thượng, hành hữu lậu là khổ, tất cả các 
pháp đều là không và vô ngã. Nghĩ như thế rồi, liền ân cần siêng năng 
quan sát các pháp vừa nói. Nên về sau nầy chính mình tu tập liền được 
pháp bậc nhất trên đời. Từ đó luôn luôn không gián đoạn sinh được trí 
nhẫn khổ pháp rồi tương ưng với Thánh đạo mà quan sát các hạnh sống 
ở cõi Dục nầy là vô thường, khổ, không, vô ngã..., tùy theo mỗi thứ 
hiện trước mặt. Cho đến khi dù chưa khởi ý nghĩ về đạo, thì trí đã hiện 
ra trước mặt. Khi đó gọi là tùy pháp hành. Đó gọi là loại Bổ-đặc-già-la 
tùy pháp hành.
- Thế nào là Bổ-đặc-già-la tín thắng giải?
Đáp: Tức là loại Bổ-đặc-già-la tùy tín hành đã được đạo loại trí, 
cho nên buông xả cả tính chất của tùy tín hành mà nhập vào số loại của 
tín thắng giải. Thế nên gọi là loại Bổ-đặc-già-la tín thắng giải.
- Thế nào là Bổ-đặc-già-la kiến chí?
Đáp: Tức là loại Bổ-đặc-già-la tùy pháp hành đã được đạo loại trí, 
cho nên buông xả cả tính chất của tùy pháp hành mà nhập vào số loại 
của kiến chí. Thế nên gọi là loại Bổ-đặc-già-la kiến chí.
- Thế nào là Bổ-đặc-già-la thân chứng?
Đáp: Nếu Bổ-đặc-già-la nào dù đối với tám giải thoát, thân đã 

===== PAGE 264 =====
264 BỘ TỲ ĐÀM 1
chứng được cụ túc trụ nhưng chưa dùng trí tuệ để dứt hẳn các lậu, thế 
nên gọi là loại Bổ-đặc-già-la thân chứng.
- Thế nào là Bổ-đặc-già-la tuệ giải thoát?
Đáp: Nếu Bổ-đặc-già-la nào dù đối với tám giải thoát, thân chưa 
chứng được cụ túc trụ, nhưng đã dùng trí tuệ mà diệt dứt hẳn các lậu, 
thế nên gọi là loại Bổ-đặc-già-la Tuệ giải thoát.
- Thế nào là Bổ-đặc-già-la câu phần giải thoát?
Đáp: Nếu Bổ-đặc-già-la nào đối với tám giải thoát dù thân đã 
chứng được cụ túc trụ rồi còn dùng để diệt thật dứt hết các lậu thì đó gọi 
là loại Bổ-đặc-già-la câu phân giải thoát (mọi phần đều giải thoát).
Vì sao lại nói câu phần giải thoát Bổ-đặc-già-la? Có hai thứ 
chướng phần: 
1. Là chướng phần phiền não. 
2. Là chướng phần giải thoát, nên gọi là câu phần (đủ cả hai phần). 
Cả hai phần ấy loại Bổ-đặc-già-la nầy tâm đều được giải thoát, giải 
thoát cùng cực, giải thoát vĩnh viễn. Thế nên gọi là Bổ-đặc-già-la câu 
phần giải thoát.
Có bảy thứ định cụ: 
1. Chánh kiến. 
2. Chánh tư duy. 
3. Chánh ngữ. 
4. Chánh nghiệp. 
5. Chánh mạng. 
6. Chánh cần. 
7. Chánh niệm. 
Đó là bảy thứ, tức là bảy chi Thánh đạo. Nên biết tướng ấy mỗi 
mỗi đều được nói riêng, nên gọi là định cụ (định đầy đủ).
Hỏi: Vì sao gọi là định cụ?
Đáp: Định cụ chính là chánh định, do bảy chi Thánh đạo vây quanh 
giúp đỡ trợ lực khiến nó càng thêm đầy đủ mạnh mẽ, vận chuyển rất tự 
tại và vẹn toàn rốt ráo nhất, nên gọi là định cụ.
Có bảy thứ tài (tiền của): 
1. Tín tài. 
2. Giới tài. 
3. Tàm tài. 
4. Quý tài. 
5. Văn tài. 
6. Xả tài. 

===== PAGE 265 =====
SỐ 1536 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA TẬP DỊ MÔN TÚC - Quyển 16 265
7. Tuệ tài.
- Thế nào là tín tài?
Đáp: Như Đức Thế Tôn có nói: Quý vị Bí-sô nên biết! Có đệ tử 
Phật ở chỗ Như Lai tu hành gieo trồng tịnh tín, sinh căn an trụ nơi không 
thể bị các Sa-môn hay Bà-la-môn, hoặc Trời, Ma, Phạm, hay cõi thế 
gian khác dẫn dụ cướp đoạt. Nên gọi là tín tài (của cải của đức tin).
- Thế nào là giới tài?
Đáp: Như Đức Thế Tôn có nói: Quý vị Bí-sô nên biết! Các đệ tử 
Phật lìa bỏ giết hại, lìa bỏ trộm cướp, lìa bỏ dâm dục tà hạnh, lìa bỏ nói 
dối, lìa bỏ uống rượu. Thế nên gọi là giới tài.
- Thế nào là tàm tài?
Đáp: Như Đức Thế Tôn có nói: Người có đầy đủ sự biết xấu hổ 
thì thường xấu hổ đối với các pháp chẳng thiện xấu ác. Vì có những tạp 
nhiễm khiến có thể chiêu cảm đến thân đời sau mà chịu quả dị thục vô 
cùng khổ sở, lại hay dẫn đến các sự sinh, già, chết ở đời sau, vậy nên 
sinh tâm xấu hổ xấu xa. Đó gọi là tàm tài.
- Thế nào là quý tài?
Đáp: Như Đức Thế Tôn có nói: Những người sống biết thẹn thùng 
thì luôn luôn xấu hổ đối với các pháp xấu ác chẳng thiện. Vì có những 
tạp nhiễm khiến có thể chiêu cảm thân đời sau, mà chịu quả dị thục vô 
cùng khổ sở, lại có khả năng dẫn đến các sự sinh già chết ở đời sau. Vậy 
hãy nên sinh lòng thẹn thùng xâu xa. Đó gọi là quý tài.
- Thế nào là văn tài?
Đáp: Như Đức Thế Tôn có nói: Quý vị Bí-sô nên biết! Có đệ tử 
Phật đa văn thường hay nghe học nhiều và ghi nhớ thật kỹ các điều đã 
nghe. Nghĩa là các pháp yếu vô thượng mà Phật đã giảng nói trình bày 
các pháp thiện thấp, trung bình, cao cấp với văn nghĩa rất tuyệt với 
khéo léo hấp dẫn mà lại thuần nhất toàn vẹn, phạm hạnh trong trắng. 
Người nầy đối với các pháp yếu vô thượng đó đã nghe học đầy đủ, nhớ 
đủ lời văn và nghĩa lý, hiểu biết thông suốt tinh tường, tâm không tán 
loạn nên sự thấy hiểu biết càng thấu đáo. Đó gọi là văn tài.
- Thế nào là xả tài?
Đáp: Như Đức Thế Tôn có nói: Quý vị Bí-sô nên biết! Có đệ tử 
Phật bị tật tham lam keo kiệt trói chặt. Vậy mà ở giữa đại chúng vị đó 
đã lìa bỏ được tật xấu đó. Tuy ở tại nhà nhưng tâm không hề mê đắm 
vướng víu, lại hay thi ân bố đức ban tặng, dang tay bố thí, luôn ưa thích 
việc buông xả và cúng tế. Ban ơn bố thí đầy đủ và bố thí phân chia bình 
đẳng không thiên vị. Đó gọi là xả tài.

===== PAGE 266 =====
266 BỘ TỲ ĐÀM 1
- Thế nào là tuệ tài?
Đáp: Như Đức Thế Tôn có nói: Quý vị Bí-sô nên biết! Có đệ tử 
Phật hay biết đúng như thật đây là khổ thánh đế, đây là chỗ tập hợp các 
khổ thánh đế, đây là diệt khổ thánh đế đây là con đường dẫn đến sự diệt 
khổ thánh đế. Đó là tuệ tài.
Đức Thế Tôn nói kệ:
Chàng trai hay cô gái
Đủ, tin, giới, tàm, quý
Văn, xả, tuệ tài đó
Nên biết thật giàu sang.
Ta bảo Đại sĩ ấy
Chẳng sống phí một đời
Thường ở cõi trời, người
Hưởng giàu sang an lạc.
Có bảy thứ lực: 
1. Tín lực. 
2. Tinh tấn lực. 
3. Tàm lực. 
4. Quý lực. 
5. Niệm lực. 
6. Định lực. 
7. Tuệ lực.
- Thế nào là tín lực?
Đáp: Như Đức Thế Tôn có nói: Quý thầy Bí-sô nên biết! Có hàng 
đệ tử Phật ở chỗ Đức Như Lai tu hành gieo trồng tinh tấn (đức tin thanh 
tịnh)…, cho đến rộng nói: Đó là tín lực (sức mạnh của đức tin).
- Thế nào là tinh tấn lực?
Đáp: Như Đức Thế Tôn có nói: Vì muốn đoạn trừ tất cả các sự xấu 
ác chẳng thiện đã sinh ra cho nên khởi lên ý muốn mạnh mẽ quyết tâm. 
Cho đến kể cả bốn thứ Chánh thắng. Đó gọi là tinh tấn lực (sức mạnh 
của siêng gắng).
- Thế nào là tàm lực?
Đáp: Như Đức Thế Tôn có nói: Những người nào đầy đủ đức biết 
hổ thẹn thì luôn xấu hổ với các pháp xấu ác, chẳng thiện, cho đến rộng 
nói. Đó gọi là tàm lực (sức mạnh của xấu hổ).
- Thế nào là quý lực?
Đáp: Như Đức Thế Tôn có nói: Những người nào trụ (sống) vào 
đức biết tủi thẹn thì luôn xấu hổ với các pháp xấu ác chẳng thiện, cho 

===== PAGE 267 =====
SỐ 1536 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA TẬP DỊ MÔN TÚC - Quyển 16 267
đến rộng nói đó gọi là quý lực (sức mạnh của đức tủi thẹn).
- Thế nào là niệm lực?
Đáp: Như Đức Thế Tôn có nói: Ngay ở trong nội thân mà luôn 
theo dõi để ý quan sát xem xét. Rộng nói cho đến bốn thứ niệm trụ (Tứ 
niệm xứ) đó gọi là niệm lực (sức mạnh của ý niệm quan sát).
- Thế nào là định lực?
Đáp: Như Đức Thế Tôn có nói: Hãy lìa sự ham muốn mọi pháp 
xấu ác chẳng thiện. Tâm luôn có tầm có từ tức có suy nghĩ tìm xét lìa 
bỏ sự sinh ra mừng vui, luôn trụ vào sơ thiền trọn vẹn đầy đủ. Rộng nói 
cho đến trụ vào bậc tứ thiền trọn vẹn đó là định lực.
- Thế nào là tuệ lực?
Đáp: Như Đức Thế Tôn có nói: Quý thầy Bí-sô nên biết! Có hàng 
đệ tử Phật hay biết đúng như thật đây là khổ thánh đế v.v... cho đến 
rộng nói. Đó gọi là tuệ lực.
Đến đây Như Lai nói kệ:
Nếu có các Bí-sô 
Đủ tín-cần-tàm-quý
Và lực-niệm-định-tuệ
Mau dứt được các khổ.


===== PAGE 268 =====
268 BỘ TỲ ĐÀM 1
LUẬN A TỲ ĐẠT MA TẬP DỊ MÔN TÚC