A-tỳ-đạt-ma Tập Dị Môn Túc Luận · Quyển 17
阿毘達磨集異門足論 · T1536
Hán văn
尊者舍利子說 三藏法師玄奘奉 詔譯 七法品第八之二 七非妙法者,云何為七?答:一、不信;二、無慚;三、 無愧;四、懈怠;五、失念;六、不定;七、惡慧。云何 不信?答:諸不信不信性、不現前信性,不隨順、 不印可、不已忍樂、不當忍樂、不現忍樂,心不 清淨,是名不信。云何無慚?答:諸無慚乃至廣 說,是名無慚。云何無愧?答:諸無愧乃至廣說, 是名無愧。云何懈怠?答:諸下精進性、劣精進 性、怯精進性、懼精進性,廣說乃至心懈怠懈 怠性、心不勇悍不勇悍性,是名懈怠。云何失 念?答:諸空念性、虛念性、失念性、心外念性,是 名失念。云何不定?答:心散亂性。云何心散亂 性?答:諸心散性,若心亂性、心躁擾性、心流 蕩性、不一境性、不安住性,是名心散亂性。云 何惡慧?答:於不如理所引簡擇,執為如理所 引;於如理所引簡擇,執為不如理所引,是 名惡慧。如是七種名非妙法。問:何緣是七名 非妙法?答:非妙謂非善士,此是彼法,名非妙 法。謂此諸法非善士邊可獲可得,此是彼士 所有現有故,說是七名非妙法。 七妙法者,云何為七?答:一、信;二、慚;三、愧;四、精 進;五、念;六、定;七慧。云何信?答:諸信信性、現前 信性,隨順印可、已忍樂、當忍樂、現忍樂,心清 淨,是名信。云何慚?答:諸慚慚性乃至廣說,是 名慚。云何愧?答:諸愧愧性乃至廣說,是名愧。 云何精進,答:諸非下精進性乃至廣說,是名 精進。云何念?答:諸念隨念,廣說乃至心明記 性,是名念。云何定?答:諸心住,廣說乃至心一 境性,是名定。云何慧?答:於如理所引簡擇覺 為如理所引,於不如理所引簡擇覺為不如 理所引,是名慧。如是七種名為妙法。問:何緣 是七名為妙法?答:妙謂善士,此是彼法,故名 妙法。謂此諸法唯善士邊可獲可得,此是彼 士所有現有故,說是七名為妙法。 復有七非妙法者,云何為七?答:一、不知法;二、 不知義;三、不知時;四、不知量;五、不自知;六、不 知眾;七、不知補特伽羅有勝有劣。不知法者, 謂不了知如來教法,謂契經、應誦、記說、伽他、 自說、因緣、譬喻、本事、本生、方廣、希法、論議,是 名不知法。不知義者,謂不了知彼彼語義,謂 如是如是語有如是如是義,是名不知義。不 知時者,謂不了知是時非時,謂此時應修止 相、此時應修舉相、此時應修捨相等,是名不 知時。不知量者,謂不了知種種分量,謂所飲 所食所嘗所噉、若行若住若坐若臥、若睡 若覺若語若默、若解勞悶等所有分量,是名 不知量。不自知者,謂不了知自德多少,謂自 所有若信若戒、若聞若捨若慧若教、若證若 念若族姓若辯才等,是名不自知。不知眾者, 謂不了知眾會勝劣,謂此是剎帝利眾、此是 婆羅門眾、此是長者眾、此是居士眾、此是 沙門眾、此是外道眾,我於此中應如是行、 應如是住、應如是坐、應如是語、應如是默 等,是名不知眾。不知補特伽羅有勝有劣 者,謂不了知補特伽羅德行勝劣,謂如是 如是補特伽羅有如是如是德行或勝或劣, 是名不知補特伽羅有勝有劣。如是七種名 非妙法。問:何緣是七名非妙法?答:非妙謂非 善士,此是彼法,名非妙法。謂此諸法非善士 邊可獲可得,此是彼士所有現有故,說是七 名非妙法。復有七妙法者,云何為七?答:一、知 法;二、知義;三、知時;四、知量;五、自知;六、知眾; 七、知補特伽羅有勝有劣。知法者,謂正了知 如來教法,謂契經、應誦、記說、伽他、自說、因緣、 譬喻、本事、本生、方廣、希法、論議,是名知法。知 義者,謂正了知彼彼語義,謂如是如是語有 如是如是義,是名知義。知時者,謂正了知是 時非時,謂此時應修止相、此時應修舉相、此 時應修捨相等,是名知時。知量者,謂正了知 種種分量,謂所飲所食所嘗所噉、若行若住 若坐若臥、若睡若覺若語若默、若解勞悶等 所有分量,是名知量。自知者,謂正了知自德 多少,謂自所有若信若戒、若聞若捨若慧、若 教若證若念、若族姓若辯才等,是名自知。知 眾者,謂正了知眾會勝劣,謂此是剎帝利眾、 此是婆羅門眾、此是長者眾、此是居士眾、此 是沙門眾、此是外道眾,我於此中應如是行、 應如是住、應如是坐、應如是語、應如是默等, 是名知眾。知補特伽羅有勝有劣者,謂正了 知補特伽羅德行勝劣,謂如是如是補特伽 羅有如是如是德行或勝或劣,是名知補特 伽羅有勝有劣。如是七種名為妙法。問:何緣 是七名為妙法?答:妙謂善士,此是彼法,故名 妙法。謂此諸法唯善士邊可獲可得,此是彼 士所有現有,故名妙法。 七識住者,云何為七? 答:有色有情種種身種種想,如人及一分天, 是名第一識住。有色有情種種身一種想,如 梵眾天劫初起位,是名第二識住。有色有情 一種身種種想,如光音天,是名第三識住。有 色有情一種身一種想,如遍淨天,是名第四 識住。無色有情超一切色想滅有對想,不思 惟種種想,入無邊空空無邊處具足住,如空 無邊處天,是名第五識住。無色有情超一切 空無邊處,入無邊識識無邊處具足住,如識 無邊處天,是名第六識住。無色有情超一切識 無邊處,入無所有無所有處具足住,如無所 有處天,是名第七識住。此中有色者,謂彼有 情,有色施設、有色身有、有色處有、有色界、有 色蘊,故名有色。有情者,謂諦義勝義雖諸有 情不可獲不可得無所有非現有,而依蘊界 處假立有情,諸想等想施設言說轉,謂有情、 人、意生、儒童、命者、生者、養者、士夫、補特伽羅, 故名有情。種種身者,謂彼有情有種種顯色 身、種種相、種種形,非一顯色、非一相、非一形, 故名種種身。種種想者,謂彼有情有樂想、苦 想、不苦不樂想,故名種種想。如人及一分天 者,謂總顯示人及欲界天,故名如人及一分 天。是名第一者,漸次順次相續次第數為第 一。識住者,云何識住?答:即此所繫所有色受 想行識蘊,總名識住。有色者,謂彼有情有色 施設、有色身有、有色處有、有色界、有色蘊,故 名有色。有情者,謂諦義勝義雖諸有情不可 獲不可得無所有非現有,而依蘊界處假立 有情,諸想等想施設言說轉,謂有情、人、意生、 儒童、命者、生者、養者、士夫、補特伽羅,故名有 情。種種身者,謂彼有情有種種顯色身、種種 相、種種形,非一顯色、非一相、非一形故,名種 種身。一種想者,謂諸有情有時有分,於此 世界劫將壞時,多往生上光音等天眾同分 中。於彼具足意成色身,根無缺減,支分圓滿 形顯清淨,喜為所噉喜為所食,長壽久住有 時有分。於此世界劫初成時,於下空中有空 宮殿欻然而起,有一有情由壽盡故、業盡故、 福盡故,先從光音等天眾同分沒,生下梵世 空宮殿中,獨一無二無諸侍者長壽久住。時 彼有情長時住已,欻然生愛及生不樂,作如 是念:「云何當令諸餘有情生我同分為我伴 侶?」當彼有情起此心願,有餘有情亦壽盡故、 業盡故、福盡故,復從光音等天眾同分沒,生 下梵宮與前有情共為伴侶。時前生者便作 是念:「我先於此獨一無二長壽久住,長時住 已欻然生愛及生不樂,作如是念:『云何當令 諸餘有情生我同分為我伴侶?』我起如是心 願之時,是諸有情便生此處,滿我意願為我 伴侶。是故當知此有情類是我所化,我於此 類及餘世間,是自在者、作者、化者、生者、起者, 是真父祖。」時諸有情亦作是念:「我等曾見如 是有情獨一無二長壽久住。時彼有情長時 住已,欻然生愛及生不樂,作如是念:『云何當 令諸餘有情生我同分為我伴侶?』於彼正起 此心願時,我等便生彼同分內為彼伴侶。由 斯我等是彼所化,彼於有情及世間物,是自 在者、作者、化者、生者、起者,是真父祖。」故名一 想。如梵眾天者,謂此義中總顯生在梵眾等 天,有種種身唯有一想。劫初起住者,謂劫 初生時。是名第二者,漸次順次相續次第數 為第二。識住者,云何識住?答即此所繫所有 色受想行識蘊,總名識住。有色者,謂彼有情 有色施設、有色身有、有色處有、有色界、有色 蘊,故名有色。有情者,謂諦義勝義雖諸有情 不可獲不可得無所有非現有,而依蘊界處 假立有情,諸想等想施設言說轉,謂有情、人、 意生、儒童、命者、生者、養者、士夫、補特伽羅,故 名有情。一種身者,謂彼有情有一顯色身、一 種相、一種形,無種種顯色、無種種相、無種種 形,故名一種身。種種想者,謂彼有情有樂想、 不苦不樂想,故名種種想。如光音天者,謂總 顯示光音等天。是名第三者,漸次順次相續 次第數為第三。識住者,云何識住?答即此所 繫所有色受想行識蘊,總名識住。有色者,謂 彼有情有色施設、有色身有、有色處有、有色 界、有色蘊,故名有色。有情者,謂諦義勝義雖 諸有情不可獲不可得無所有非現有,而依 蘊界處假立有情,諸想等想施設言說轉,謂 有情、人、意生、儒童、命者、生者、養者、士夫、補特伽 羅。故名有情。一種身者,謂彼有情有一顯色 身、一種相、一種形,無種種顯色、無種種相、無 種種形,故名一種身。一種想者,謂彼有情唯 有樂想,故名一種想。如遍淨天者,謂總顯示 遍淨等天。是名第四者,漸次順次相續次第 數為第四。識住者,云何識住?答即此所繫所 有色受想行識蘊,名識住。無色者,謂彼有情 無色施設、無色身、無有色處、無有色界、無色 蘊,故名無色。有情者,謂諦義勝義雖諸有情 不可獲不可得無所有非現有,而依蘊界處 假立有情,諸想等想施設言說轉,謂有情、人、 意生、儒童、命者、生者、養者、士夫、補特伽羅,故 名有情。超一切色想者,謂超一切眼識身相 應想。滅有對想者,謂滅四識身相應想。不思 惟種種想者,謂無五身識所引意識相應緣 色等種種障礙定想。入無邊空空無邊處具 足住,如空無邊處天者,謂總顯示空無邊天。 是名第五者,漸次順次相續次第數為第五。 識住者,云何識住,答即此所繫所有受想行 識蘊,總名識住。無色者,謂彼有情無色施設、 無色身、無有色處、無有色界、無色蘊,故名無 色。有情者,謂諦義勝義雖諸有情不可獲不可 得無所有非現有,而依蘊界處假立有情,諸 想等想施設言說轉,謂有情、人、意生、儒童、命 者、生者、養者、士夫、補特伽羅,故名有情。超一 切空無邊處,入無邊識識無邊處具足住,如 識無邊處天者,謂總顯示識無邊處天。是名 第六者,漸次順次相續次第數為第六。識住 者,云何識住?答:即此所繫所有受想行識蘊, 總名識住。無色者,謂彼有情無色施設、無色 身、無有色處、無有色界、無色蘊,故名無色。有 情者,謂諦義勝義雖諸有情不可獲不可得 無所有非現有,而依蘊界處假立有情,諸想 等想施設言說轉,謂有情、人、意生、儒童、命者、 生者、養者、士夫、補特伽羅,故名有情。超一切 識無邊處,入無所有無所有處具足住,如無 所有處天者,謂總顯示無所有處天。是名第 七者,漸次順次相續次第數為第七。識住者, 云何識住?答即此所繫所有受想行識蘊,總 名識住。 七隨眠者,云何為七?答:一、欲貪隨眠;二、瞋隨 眠;三、有貪隨眠;四、慢隨眠;五、無明隨眠;六、見 隨眠;七、疑隨眠。云何欲貪隨眠?答:若於諸欲 諸貪等貪,乃至廣說,是名欲貪隨眠。云何瞋 隨眠?答:若於有情欲為損害,乃至廣說,是名 瞋隨眠。云何有貪隨眠?答:於色無色諸貪等 貪,乃至廣說,是名有貪隨眠。云何慢隨眠?答: 諸慢恃執,乃至廣說,是名慢隨眠。云何無明 隨眠?答:三界無智是名無明隨眠。云何見隨 眠?答:五見是名見隨眠,謂有身見、邊執見、邪 見、見取、戒禁取,如是五見名見隨眠。云何疑 隨眠?答:於諦猶豫是名疑隨眠。 七無過失事者,云何為七?具壽當知,有聖弟 子,於如來所修植淨信根生安住,不為沙門 或婆羅門或天魔梵或餘世間如法引奪,是 名第一無過失事。復次具壽,有聖弟子,安住 淨戒精勤守護,別解脫律儀軌則所行無不 具足,於微小罪見大怖畏,受學學處常無毀 犯,是名第二無過失事。復次具壽,有聖弟子, 親近善友,善為伴侶與善交通,是名第三無 過失事。復次具壽,有聖弟子,樂居閑寂具二 遠離,謂身遠離及心遠離,是名第四無過失 事。復次具壽,有聖弟子,勤精進住有勢有勤 有勇堅猛,於諸善法常不捨軛,是名第五無 過失事。復次具壽,有聖弟子具念安住,成就 最勝常委念支,久作久說皆能憶念,是名第 六無過失事。復次具壽,有聖弟子具慧安住, 成就世間有出沒慧、聖慧、出慧、善通達慧,彼 所作慧正盡苦慧,是名第七無過失事。於如 來所修植淨信者,云何如來?答:應正等覺說 名如來。云何淨信?答:若依出離遠離所生善 法,諸信信性廣說乃至心清淨性,故名淨信。 即此淨信於如來所,已修植當修植現修植, 是故說為於如來所修植淨信根生等言,如 前廣說。是名第一者,漸次順次相續次第數 為第一。無過失事者,謂能顯示清淨永斷。安 住淨戒者,云何淨戒?答:諸所作業,謂身律儀、 語律儀、命清淨,是名淨戒。安住者,謂成就淨 戒,修行勝行進趣契會,故名安住。精勤守護 別解脫律儀者,云何別解脫?答:謂諸如來、應、 正等覺廣說,乃至佛薄伽梵自知自見,為諸 苾芻半月半月常所宣說別解脫契經,是名 別解脫。問:何緣說此名別解脫?答:最勝善法 由此為門、此為上首、此為初緣,別行別住,由 斯故立別解脫名。精勤守護此律儀者,謂於 如是別解脫法,恒隨作恒隨轉,由斯故說精 勤守護別解脫律儀。軌則所行無不具足者, 謂諸苾芻眾有五非軌則及五非所行。云何 名為五非軌則?答:一、他勝罪;二、眾餘罪;三、墮 煮罪;四、別首罪;五、惡作罪。云何名為五非所 行?答:一、國王家;二、執惡家;三、婬女家;四、音樂 家;五、酤酒家。諸聖弟子於此所說五非軌則、 五非所行,常樂遠離止息棄捨,於正軌則及 正所行具足成就,由斯故說軌則所行無不 具足。於微小罪見大怖畏者,謂於小罪起極 怖想,由斯故說於微小罪見大怖畏。受學學 處常無毀犯者,謂聖弟子不作是念:「我於如 是如是學處應勤修學、我於如是如是學處 不勤修學。」諸聖弟子常作是念:「一切如來、應、 正等覺,廣說乃至佛薄伽梵自知自見,凡所 制立一切學處,我皆受學常無毀犯。」由斯故 說受學學處常無毀犯。是名第二者,漸次順 次相續次第數為第二。無過失事者,謂能顯 示清淨永斷。親近善友者,云何善友?答:一切 如來、應、正等覺及佛弟子皆名善友。復次若 有補特伽羅具戒具德,乃至廣說,故名善友。 於斯善友親近等親近極親近,隨順承奉供 養恭敬,是故說為親近善友。云何名為善為 伴侶?答:於斷生命、若不與取、若欲邪行、若虛 誑語、若飲諸酒,皆能遠離止息棄捨厭患永 斷,說名為善。與此善者為伴為侶,隨順趣向 身心無二,是故說為善為伴侶。云何名為與 善交通?答:若於具信具戒多聞具捨具慧,隨 轉隨屬隨順不逆,是故說為與善交通。復次 若於具足出離遠離善法,隨轉隨屬隨順不 逆,是故說為與善交通。復次若於具足出離 遠離善法,一樂一欲一喜一愛、同樂同欲同 喜同愛,是故說為與善交通。是名第三者, 漸次順次相續次第數為第三。無過失事者, 謂能顯示清淨永斷。樂居閑寂者,云何名為 樂居閑寂?答:諸空逈舍皆名閑寂。若住此中 歡喜愛樂,不生愁思心無厭怖,是故說為樂 居閑寂。具二遠離謂身遠離及心遠離者,謂 住此中能勤修學,內心寂止不離靜慮,成就 妙觀,長空逈舍勤修自義。能勤修學內心寂 止者,謂住此中能勤精進,修學世間四種靜 慮。不離靜慮者,謂於世間四種靜慮常勤思 慕,不下不劣無怯無斷,是故說為不離靜慮。 成就妙觀者,謂於世間四種靜慮相應妙慧 具足成就,是故說為成就妙觀。長空逈舍者, 謂住閑寂空逈舍中,由簡擇力歡喜愛樂,不 生愁思心無厭怖,增長身心及諸善法,是故 說為長空逈舍。勤修自義者,謂諸愛盡離滅 涅槃,名最上義亦名自義,於如是義精勤修 學求疾證得,是故說為勤修自義。是名第四 者,漸次順次相續次第數為第四。無過失事 者,謂能顯示清淨增語。勤精進住者。云何精 進?答:若於出離遠離所生善法,精勤勇猛勢 用策勵,不可制伏策心相續,是名精進。由彼 成就如是精進,於所修習能行勝行進趣證 會,是故說為勤精進。住有勢者,謂彼上品精 進圓滿,故名有勢。有勤者,謂即顯示精進堅 固,故名有勤。有勇堅猛者,謂由成就精進力 故,勇決而取、堅住而取、猛利而取,諸有所取 是善非惡,隨所取相守護不捨,如獲他國善 能守護,是故說為有勇堅猛。於諸善法常不 捨軛者,謂於善法不捨勤勇,熾然精進無間 無斷,是故說為於諸善法常不捨軛。是名第 五者,漸次順次相續次第數為第五。無過失 事者,謂能顯示清淨增語。具念安住者,云何 為念?答:若依出離遠離所生善法,諸念隨念 乃至廣說,是名為念。成就最勝常委念支者, 謂八支聖道說名常委,此念是彼一支所攝, 謂正念支,是故說為成就最勝常委念支。久 作久說皆能憶念者,謂由此念,於曾更事不 忘不失令心明記,是故記為久作久說皆 能憶念。是名第六者,漸次順次相續次第數 為第六。無過失事者,謂能顯示清淨增語。具 慧安住者,云何名慧?答:若依出離遠離所生 善法:於諸法相能簡擇極簡擇:廣說乃至毘 鉢舍那:是名為慧。言安住者,謂由成就如是 慧故,於諸法相能行勝行進趣證會,由斯故 說具慧安住。成就世間有出沒慧者,世間謂 五取蘊。云何為五?謂色取蘊受想行識取蘊。 彼由成就如是慧故,能如實知此五取蘊生 及變壞,由斯故說成就世間有出沒慧。言聖 慧者,有二種聖:一者善故聖;二者無漏故聖。 此慧具由二種聖故,說名為聖故名聖慧。言 出慧者,謂彼成就如是慧故,能出離欲界及 能出離色無色界,故名出慧。善通達慧者,謂 彼成就如是慧故,於苦集滅道諦、由苦集滅 道相,能通達、善通達、各別通達,是故名為善 通達慧。彼所作慧者,謂彼所引學無間道所 有勝慧,此中說為彼所作慧。正盡苦慧者,云 何名正?答:因故、門故、理趣故、行相故,說名為 正。盡苦慧者,五取蘊名為苦,此慧能令五取 蘊盡等盡遍盡,證永盡故,名盡苦慧。是名第 七者,漸次順次相續次第數為第七。無過失 事者,謂能顯示清淨增語。此中世尊說伽他 曰: 「具信戒善友,居寂樂精勤, 成就念正知,名七無過事。」 七止諍法者,云何為七?答:一、現前毘柰耶;二、 憶念毘柰耶;三、不癡毘柰耶;四、求彼自性毘 柰耶;五、取多人語毘柰耶;六、取自言持毘柰 耶;七、如草覆地毘柰耶。如是名為七止諍法。 問:何緣是七名止諍法?答:諍謂彼此鬪訟違 諍。由斯七法隨一現前,令所起諍皆調止息, 由此因緣名止諍法。
Việt dịch
QUYỂN 17 Phẩm 8: BẢY PHÁP, Phần 2 Có bảy pháp không tốt (phi diệu): 1. Bất tín. 2. Không hổ. 3. Không thẹn. 4. Biếng lười. 5. Mất chánh niệm. 6. Không định. 7. Ác tuệ (tuệ xấu). - Thế nào là bất tín (không tin)? Đáp: Gồm các loại chẳng tin, tính chất của bất tín, tánh chẳng tin ở trước mắt, không tùy thuận, không ấn định quyết chắc, đã không vui nhẫn, sẽ không vui nhẫn, hiện không vui nhẫn, lòng luôn không thanh tịnh. Đó gọi là bất tín. - Thế nào là vô tàm? (Không biết xấu hổ) Đáp: Tức là các thứ chẳng biết xấu hổ, cho đến rộng nói. Đó gọi là vô tàm. - Thế nào là vô quý? (Không biết tủi thẹn) Đáp: Các thứ chẳng biết tủi thẹn, xấu hổ, mắc cỡ..., cho đến rộng nói. Đó là vô quý. - Thế nào là biếng lười? Đáp: Tức là tính chất của các thứ dưới mức tinh tấn, tinh tấn kém, ngán tinh tấn, sợ tinh tấn..., rộng nói cho đến sự biếng lười, tự tánh biếng lười tâm không hăng hái mạnh mẽ cố gắng siêng năng chuyên cần. Đó gọi là biếng lười. - Thế nào là thất niệm? (Mất chánh niệm) ===== PAGE 269 ===== SỐ 1536 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA TẬP DỊ MÔN TÚC - Quyển 17 269 Đáp: Tức là tính chất của các thứ không nghĩ ngợi, chú ý, nghĩ nhớ các việc gì cả hoặc nghĩ ngợi lang mang, mất chánh niệm, niệm ở ngoài tâm. Đó là thất niệm. - Thế nào là bất định? Đáp: Tức là tâm tán loạn. Tính chất của tâm tán loạn là sao? Tức là các tính chất phân tán của tâm như tâm loạn động rối rắm, tâm luôn xao động hồi hộp, bị quấy nhiễu, tâm lăng xăng lang thang, chạy nhảy, không chuyên chú vào một cảnh, không đứng yên. Đó là tánh tán loạn của tâm. - Thế nào là ác tuệ? Đáp: Tức là tuyển chọn những điều không đúng lý chấp chặt cho là đúng, còn những việc đúng lý thì bảo là sai. Thế nên gọi là ác tuệ (tuệ xấu). Đó là bảy pháp không tốt. Do nguyên nhân nào mà nói bảy pháp nầy là không tốt? Không tốt (diệu) tức là không phải hạng người tốt lành. Các pháp nầy gọi là không tốt, nghĩa là với các pháp nầy thì chỉ có những kẻ không tốt đàng hoàng mến thích chuộng lấy mà thôi. Vì kẻ ấy hiện có nên gọi là bảy thứ không tốt. Có bảy thứ pháp tốt: 1. Tín. 2. Tàm. 3. Quý. 4. Tinh tấn. 5. Niệm. 6. Định. 7. Tuệ. - Thế nào là tín? Đáp: Các thứ đức tin, tính chất của đức tin, sự tin tưởng trước mắt, sự tùy thuận, sự ấn định quyết chấp (lời hứa có uy tín) đã vui chịu đựng (nhẫn) sẽ vui chịu đựng, hiện đang vui chịu đựng. Tâm luôn thanh tịnh. Đó gọi là tín. - Thế nào là tàm? (xấu hổ với người) Đáp: Là các thứ mắc cỡ, xấu hổ, tính chất về sự xấu hổ, cho đến rộng nói. Đó là tàm (hổ). - Thế nào là quý? Đáp: Các thứ tủi thẹn, tánh của tủi thẹn, cho đến nói rộng. Đó là quý (tự thẹn với mình). ===== PAGE 270 ===== 270 BỘ TỲ ĐÀM 1 - Thế nào là tinh tấn? Đáp: Tức các thứ bậc dưới của siêng năng tinh tấn, tính chất sự tinh tấn cho đến rộng nói. Đó là tinh tấn (cố sức siêng gắng). - Thế nào là niệm? Đáp: Là các thứ niệm, tùy niệm. Rộng nói cho đến tâm sáng suốt tánh ghi nhớ. Đó là niệm. - Thế nào là định? Đáp: Là các thứ tâm trụ. Rộng nói cho đến tính chất tâm chuyên chú vào một cảnh. Đó gọi là định. - Thế nào là tuệ? Đáp: Tức là tuyển chọn hiểu biết các điều nào đúng lý thì cho là đúng lý, điều nào không đúng lý thì bảo là sai. Đó gọi là tuệ. Đó là bảy pháp tốt. Do nguyên nhân nào nói là bảy pháp nầy tốt? Tốt là chỉ cho hạng người tốt đàng hoàng. Ở đây nói các pháp ấy tốt, có nghĩa là chỉ có những kẻ đàng hoàng tốt mới mến thích chuộng lấy các pháp đó mà thôi. Nay các kẻ ấy hiện có, nên gọi đó là bảy pháp tốt. Lại có bảy pháp không tốt: 1. Chẳng biết pháp. 2. Không biết nghĩa. 3. Không biết thời gian. 4. Không biết độ lượng. 5. Không biết chính mình. 6. Không biết về các nhóm người. 7. Không biết Bổ-đặc-già-la nào hơn kém. - Thế nào là không biết pháp? Đáp: Nghĩa là không biết giáo pháp của Như Lai gọi là Khế kinh, gồm các thứ như: Văn đọc tụng, lời thọ ký, kệ tụng, tự nói, nhân duyên, thí dụ, bổn sự, bổn sinh, phương quảng, pháp hiếm có, nghị luận... Đó gọi là không biết pháp. - Thế nào là không biết nghĩa? Đáp: Tức là chẳng hiểu biết được điều ấy, những lời nói có nghĩa lý ấy, nghĩa là với lời nói như thế, như thế, thì có nghĩa lý như thế, như thế. Đó gọi là chẳng biết nghĩa. - Thế nào là không biết thời gian? Đáp: Nghĩa là không biết đúng lúc hay không đúng lúc, là như lúc nầy thì nên tu pháp ngăn trừ thôi dứt. Lúc nầy thì nên tu pháp khởi sự hành động, lúc kia thì nên tu hạnh buông xả v.v... Đó gọi là không biết thời gian. ===== PAGE 271 ===== SỐ 1536 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA TẬP DỊ MÔN TÚC - Quyển 17 271 - Thế nào là không biết độ lượng? Đáp: Nghĩa là không hiểu biết các thứ phân lượng như các thức ăn uống hay cách ăn uống, như việc đi đứng nằm ngồi, như việc thức ngủ, nói năng im lặng, hoặc cách giải trừ phiền muộn v.v..., phải có chừng mực. Thế nên gọi là không biết độ lượng. - Thế nào là không tự biết mình? Đáp: Là không tự biết mình đạo đức nhiều ít như các thứ: Đức tin, giới hạnh, việc nghe học, việc buông xả, trí tuệ hoặc giáo pháp, các quả chứng, các ý niệm dòng dõi tài năng, năng khiếu của mình v.v..., gọi là không tự biết về mình. - Thế nào là không biết về các nhóm người? Đáp: Là chẳng hiểu biết về các nhóm người ai hơn ai kém, như thế nào về các chúng Sát-đế-lợi, Bà-la-môn, Trưởng giả, cư sĩ hay Sa-môn hoặc ngoại đạo... ở trong các nhóm người ấy thì ta phải làm như thế nào như phải đứng ngồi ra sao, nói năng im lặng thế nào v.v... Đó gọi là không biết về các nhóm người. - Thế nào là không biết về Bổ-đặc-già-la nào hơn kém? Đáp: Nghĩa là không biết các Bổ-đặc-già-la đức hạnh của ai hơn hay kém. Tức là các Bổ-đặc-già-la như thế như thế thì đức hạnh như thế như thế là kém hay hơn. Đó gọi là không biết rõ Bổ-đặc-già-la hơn kém. Đó là bảy pháp không tốt. Do nguyên nhân nào nói bảy pháp đó chẳng tốt lành? Chẳng tốt là chỉ cho người không tốt, không đàng hoàng. Các pháp nầy sở dĩ gọi là không tốt vì chỉ có hạng người ấy mến ưa chuộng lấy mà thôi. Cho nên đây là bảy pháp không tốt. Lại có bảy pháp tốt: 1. Biết pháp. 2. Hiểu nghĩa. 3. Biết lúc. 4. Biết độ lượng. 5. Biết mình. 6. Biết các nhóm người. 7. Biết Bổ-đặc-già-la hơn kém. - Biết pháp, nghĩa là hiểu biết đúng về giáo pháp của Như Lai. Đó là Khế kinh gồm có các thứ: Ứng tụng, Thọ ký, Văn xuôi, Văn vần, (các kệ tụng), Tự nói, Nhân duyên, Thí dụ, Bổn sự, Bổn sinh, Phương quảng, Pháp hiếm có, Nghị luận... Đó gọi là biết pháp. - Hiểu nghĩa, là hiểu biết đúng đắn điều đó, lời văn có nghĩa lý đó. ===== PAGE 272 ===== 272 BỘ TỲ ĐÀM 1 Tức là những lời như thế thì có ý nghĩa như thế. Đó gọi là hiểu nghĩa. - Biết lúc, là biết đúng lúc và chẳng đúng lúc. Tức là lúc nầy thì nên tu pháp chỉ tướng, lúc kia thì nên tu pháp cử tướng, và lúc nọ nên tu pháp xả tướng v.v... như thế gọi là biết lúc biết thời. - Biết độ lượng, là hiểu biết đúng đắn có thứ phân lượng, tức như các thức ăn uống hay cách ăn uống thưởng thức, hoặc khi đi đứng nằm ngồi, khi thức ngủ, nói năng im lặng, hoặc khi giải lao, giải buồn v.v... mỗi thứ đều có mức hạn định..., đều biết rõ cả. - Tự biết mình, là hiểu biết đúng đắn về đức độ của mình nhiều, hay ít. Tức là những thứ mình đã có. Như về đức tin, uy tín, giới hạnh, nghe học, sự buông xả, hoặc trí tuệ, giáo pháp, các quả chứng, các ý niệm, hoặc về dòng dõi, năng khiếu, tài năng v.v..., thì gọi biết mình. - Biết các nhóm người, là biết rõ các nhóm người nào là hơn hay kém, như các nhóm người thuộc các dòng Sát đế lỵ, Bà-la-môn, Trưởng giả, cư sĩ, đây là Sa-môn, đây là ngoại đạo..., thì ta phải xử sự như thế nào, phải đứng ngồi ra sao, khi nào nên nói và nên yên lặng. Đó gọi là biết các nhóm người. - Biết hạn Bổ-đặc-già-la nào hơn hay kém, là biết rõ hạng Bổ- đặc-già-la nầy có đức hạnh hơn hay kém. Tức là khối Bổ-đặc-già-la như thế thì có đức hạnh như thế là kém hay hơn... Đó gọi là biết Bổ- đặc-già-la hơn hay kém. Đó là bảy pháp tốt. Vì sao lại gọi bảy pháp nầy là tốt? Tốt đây là chỉ cho bậc Thiện sĩ, kẻ đàng hoàng. Các pháp đó gọi là tốt vì chỉ có những kẻ tốt đàng hoàng đó mến ưa chuộng lấy mà thôi. Cho đến gọi các pháp nầy là tốt. Có bảy thức trụ: 1. Như có loài hữu tình có sắc, có các thứ thân và các thứ tưởng như loài người và một phần cõi trời. Đó là trụ thức thứ nhất. 2. Lại có loài hữu tình có sắc, có các thứ thân, nhưng chỉ có một thứ tưởng như cõi trời Phạm chúng, khởi lập từ kiếp xưa, gọi là trụ thức thứ hai. 3. Lại có loài hữu tình có sắc, có một thứ thân nhưng có nhiều thứ tưởng như cõi trời Quang Âm thì gọi là cõi trời thứ ba. 4. Lại có loài hữu tình có sắc, có một thứ thân và một thứ tưởng như cõi trời Biến tịnh, thì gọi là trụ thức thứ tư. 5. Lại có loài hữu tình không có sắc, vượt ngoài tất cả sắc tưởng, diệt hết các đối tưởng chẳng còn suy nghĩ các thứ tưởng và nhập vào không vô biên, trụ đầy đủ vào Không vô biên xứ. Như cõi trời Không ===== PAGE 273 ===== SỐ 1536 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA TẬP DỊ MÔN TÚC - Quyển 17 273 vô biên xứ. Gọi đó là trụ thức thứ năm. - Lại có loài hữu tình không có sắc, vượt ngoài tất cả vào Không vô biên xứ mà nhập vào thức vô biên, trụ đầy đủ vào Thức vô biên xứ. Như cõi trời Thức vô biên xứ. Gọi đó là trụ thức thứ sáu. - Lại có loài hữu tình không có sắc, vượt ngoài tất cả Thức vô biên xứ mà nhập vào vô sở hữu trụ đầy đủ vào Vô sở hữu xứ. Như cõi trời Vô sở hữu xứ. Gọi đó là trụ thức thứ bảy. Chữ có sắc ở đây, nghĩa là loài hữu tình ấy có sắc, hiện bày ra thân có sắc, có đủ cả xứ có sắc, giới có sắc và uẩn có sắc, nên gọi là có sắc. Loài hữu tình: Tức là theo nghĩa chắc thật cao tột. Vì các loài hữu tình không nhận được, không thể được, không có, không hiện hữu, nhưng dựa vào các uẩn, xứ, giới mà giả lập ra có loài hữu tình. Rồi có các tưởng tưởng ra đặt ra nói là có chuyển đổi mà gọi là loài hữu tình theo ý người. Rồi có sinh mạng nhu đồng (trẻ con) có sinh ra, có nuôi dưỡng thành trượng phu Bổ-đặc-già-la, nên gọi là loài hữu tình. Có các thứ thân, nghĩa là loài hữu tình đó có nhiều thứ sắc thân hiện bày rõ ràng, đủ các thứ tướng, đủ các thứ hình chứ không phải có một sắc, một tướng, một hình. Cho nên gọi là các thứ thân. Có các thứ tưởng, là loài hữu tình ấy có các tưởng vui, tưởng khổ, hay tưởng không vui không khổ. Cho nên gọi là các thứ tưởng. Như người và một phần cõi trời, là chỉ chung về loài người và cõi trời thuộc Dục giới. Gọi đó là thứ nhất, tức là theo thứ tự liên tục đếm tới thì nó ở hàng thứ nhất. Trụ là gì? Tức là với sự phiền lụy đó có đủ cả sắc, thọ, tưởng, hành, thức nên gọi chung là thức trụ. Có sắc, là loài hữu tình có sắc đó mới bày ra cái thân có sắc, có các thứ xứ có sắc, giới có sắc và uẩn có sắc. Nên gọi là có sắc. Hữu tình, tức là theo nghĩa chắc thật cao quý. Dầu loài hữu tình thật ra không nhận được, không thể được, không có, không hiện hữu, nhưng dựa vào các uẩn, giới, xứ mà giả lập ra loài hữu tình. Rồi với các tưởng tưởng ra, đặt ra nói là có chuyển đổi mà gọi là loài hữu tình theo ý người. Rồi có sinh mạng nhu đồng, có sinh, có dưỡng trở thành trượng phu Bổ-đặc-già-la. Nên gọi là hữu tình. Có các thứ thân, là loài hữu tình đó có nhiều thứ sắc thân hiện bày rõ ràng, đủ các thứ hình tướng chứ không phải chỉ có một sắc, một tướng một hình. Nên gọi là các thứ thân. ===== PAGE 274 ===== 274 BỘ TỲ ĐÀM 1 Có một thứ tưởng, là các loài hữu tình ấy có thời gian và thân phận sống (có mạng sống trong một thời gian nhất định). Nên khi thế giới nầy kiếp sống sắp hoại thì phần nhiều đều vãng sinh lên cõi trời Quang âm cùng chung sự với nhau. Ở đó có đầy đủ tâm ý và sắc thân, các căn không thiếu sót, các chi phần bộ phận đều trọn vẹn đầy đủ, hình tướng rõ ràng thanh tịnh mừng vui mà ăn uống, mạng sống dài lâu có thời gian phần số. Ở thế gian đó khi kiếp xưa lúc mới thành lập, ở phía dưới không trung có một số cung điện trống rỗng, bỗng nhiên mọc lên. Khi đó có một người (hữu tình) do thọ mạng đã hết, nghiệp đã dứt, phước đã tàn, là người đầu tiên cùng chung sống ở cõi trời Quang âm chết đi và sinh xuống ở tại cung điện trống không cõi Phạm thế, chỉ riêng một mình không có ai khác theo hầu nhưng có tuổi thọ rất dài. Người nầy sống ở đó trong thời gian rất lâu, lâu lắm. Rồi bỗng nhiên lại sinh ra lòng ái dục và buồn rũ rượi, nên nghĩ: Phải chi có nhiều hữu tình khác cùng chung số phần đến sống cùng làm bạn với ta! Khi người nầy đang ước ao như thế thì có một số hữu tình khác do tuổi thọ đã tàn, nghiệp đã dứt, phước đã hết cũng ở cõi trời Quang âm đó chết đi và sinh vào cung điện ở cõi Phạm thế để cùng làm bạn với hữu tình trước đó. Người sinh trước ở cõi ấy nghĩ: Từ xưa khi ta sinh lên đây chỉ có một mình không có ai cả tuổi thọ rất cao, và ở đây rất lâu bỗng nhiên sinh ái dục và buồn rười rượi, nên nghĩ làm thế nào để có các chúng hữu tình khác cũng giống như ta sinh vào chốn nầy để cùng ta làm bạn. Khi ta ước ao như thế thì có các hữu tình khác liền sinh vào đây đáp ứng ý ta và cùng ta làm bạn. Vậy thì số hữu tình chính ta hóa ra. Như thế thì đối với những kẻ ấy và các thế gian khác ta là kẻ tự có tự tại, ta là kẻ làm ra, hóa ra, sinh ra. Thật ra đáng tôn lên làm Tổ phụ. Ngay lúc đó nhóm hữu tình kia cũng nghĩ: Bọn ta đã từng thấy ông ấy sống, một mình ở đây với số tuổi rất cao, và sống ở đây rất lâu, lâu lắm. Rồi bỗng nhiên phát sinh lòng ái dục và nảy ra một nỗi buồn lớn và bảo ước ao có các hữu tình khác cùng giống như ta sinh lên đây cùng làm bạn với ta. Khi ông ấy mong ước điều đó thì bọn ta liền sinh lên đó cùng chung số phần để cùng làm bạn thiết với ông ấy. Vậy thì bọn ta chính do ông ấy hóa ra. Đối với loài hữu tình và các vật trên cõi nầy, thì khi ông ấy là kẻ tự tại, là kẻ đã hóa ra, làm ra, sinh ra, thật ông ấy đáng tôn lên làm Tổ phụ..., cho nên gọi là có một thứ tưởng. Như cõi trời Phạm chúng, là ở đây là để gọi chung những người sinh lên ở cung trời Phạm chúng. Có nhiều thứ thân nhưng chỉ có một thứ tưởng đã khởi trụ từ kiếp ===== PAGE 275 ===== SỐ 1536 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA TẬP DỊ MÔN TÚC - Quyển 17 275 xa xưa, là khi kiếp xưa sinh ra thì gọi là bậc thứ hai, tức theo thứ tự liên tục đếm dần lên thì nó ở hàng thứ hai. Hỏi: Vì sao gọi là thức trụ? Đáp: Tức là với thân phiền lụy nầy có đủ các thứ uẩn, sắc, thọ, tưởng, hành, thức, nên gọi chung là thức trụ. Có sắc, nghĩa là đối với loài hữu tình có sắc ấy bày lập ra cái thân có sắc, có các thứ xứ có sắc, giới có sắc uẩn có sắc. Nên gọi là có sắc. Hữu tình, đó là nghĩa chắc thật cao quý. Dù các loài hữu tình không nhận được, không thể được, không có, không hiện hữu, nhưng y vào các uẩn, giới, xứ mà giả lập ra loài hữu tình. Rồi với các tưởng tưởng ra mà đặt nói là có chuyển đổi mà gọi là hữu tình theo ý người. Rồi có sinh ra mạng nhu đồng, có sinh ra có nuôi dưỡng để thành những trượng phu Bổ-đặc-già-la. Cho nên gọi là hữu tình. Có một thứ thân, là loài hữu tình ấy có một sắc thân rõ ràng có một phần tướng. Không có các thứ sắc, không có nhiều thứ tướng, nhiều thứ hình. Nên gọi là một thứ thân. Có nhiều thứ tưởng nghĩa là loài hữu tình ấy có tưởng vui và tưởng chẳng khổ chẳng vui. Nên gọi là nhiều thứ tưởng. Như cõi trời Quang âm, tức chỉ chung cho các trời ở cõi Quang âm. Đó gọi là hàng thứ ba. Tức là theo thứ tự liên tục đếm dần lên thì nó ở hàng thứ ba. Thức trụ là gì? Tức là với cái thân phiền lụy nầy có đủ các uẩn sắc, thọ, tưởng, hành, thức nên gọi chung là thức trụ. Có sắc, nghĩa là loài hữu tình có sắc ấy bày lập ra thân có sắc và các thứ xứ có sắc, giới có sắc, uẩn có sắc, cho nên gọi là có sắc. Hữu tình, là thuộc nghĩa chắc thật và cao tột, dù các loài hữu tình chẳng thể thâu nhận được, chẳng thể được, không có, không hiện hữu, nhưng y vào các uẩn, giới, xứ mà giả lập ra loài hữu tình. Rồi với các tưởng tưởng ra mà đặt ra nói là có chuyển đổi mà gọi là hữu tình theo ý người. Rồi có sinh ra mạng nhu đồng, có sinh ra, có nuôi dưỡng để thành Bổ-đặc-già-la, nên gọi là hữu tình. Có một thứ thân, là các loài hữu tình ấy có một sắc thân rõ ràng, có một hình, một tướng. Không có nhiều thứ sắc, không có nhiều thứ tướng, nhiều thứ hình. Nên gọi là một thứ thân. Có một thứ tưởng, là có loài hữu tình chỉ có tưởng vui mà thôi, cho nên gọi là một thứ tưởng. Như cõi trời Biến tịnh, tức là sự chỉ chung cho các trời ở cõi Biến tịnh, đó là hàng thứ tư. Tức theo thứ tự liên tục dần đếm lên thì nó ở ===== PAGE 276 ===== 276 BỘ TỲ ĐÀM 1 hàng thứ tư. Thế nào là thức trụ? Tức là với cái thân phiền lụy nầy có đủ các uẩn sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Nên gọi là thức trụ. Không có sắc, là loài hữu tình ấy không có sắc mà lập ra thân không sắc, không có các thứ xứ có sắc, giới có sắc, uẩn có sắc. Cho nên gọi là không có sắc. Hữu tình, tức là theo nghĩa chắc thật cao tột, dù các loài hữu tình chẳng thể thâu nhận được, không thể được, không có, không hiện hữu, nhưng y vào các uẩn, giới xứ mà giả lập ra loài hữu tình. Rồi với các tưởng tưởng đặt ra nói là có chuyển đổi mà gọi là loài hữu tình theo ý người. Rồi có sinh ra mạng nhu đồng, có sinh ra, có nuôi dưỡng để trở thành các Bổ-đặc-già-la. Nên gọi là hữu tình. Vượt tất cả các sắc tưởng, là vượt tất cả nhãn thức, thân tương ưng với tưởng. Diệt hết sự có đối tưởng, là diệt cả bốn thức của thân tương ưng với tưởng. Chẳng suy nghĩ các thứ tưởng, là không có năm thức của thân, dẫn đến tương ưng với ý thức duyên nơi sắc v.v... Các thứ gây chướng ngại cho định tưởng (tưởng về định), nhập vào vô biên không, trụ đầy đủ vào Không vô biên xứ. Như là cõi trời Không vô biên xứ, là chỉ chung về cõi trời không vô biên. Đó gọi là hàng thứ năm. Tức là theo thứ tự liên tục đếm dần mãi thì nó ở hàng thứ năm. Hỏi: Trụ thức là gì? Đáp: Tức là với cái thân phiền lụy nầy, có đủ cả các uẩn sắc, thọ, tưởng, hành, thức, nên gọi chung là thức trụ. Không có sắc, là loài hữu tình ấy không sắc ấy lập ra thân không có sắc, không có xứ có sắc, không có giới có sắc, không có uẩn có sắc, cho nên gọi là không có sắc. Hữu tình, tức là theo nghĩa chắc thật cao tột, dù các loài hữu tình không thâu nhận được, không thể được, không có, không hiện hữu, nhưng y vào các uẩn-giới-xứ mà giả lập ra loài hữu tình. Và với các tưởng tưởng đặt ra nói là có chuyển đổi mà gọi là loài hữu tình theo ý người. Rồi có sinh ra mạng nhu đồng, có sinh ra, có nuôi dưỡng để trở thành Bổ-đặc-già-la. Nên gọi là hữu tình. Vượt tất cả Không vô biên xứ mà nhập vào thức vô biên, trụ đầy đủ vào Thức vô biên xứ, như cõi trời Thức vô biên xứ, nghĩa là chỉ chung cõi trời Thức vô biên xứ. ===== PAGE 277 ===== SỐ 1536 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA TẬP DỊ MÔN TÚC - Quyển 17 277 Đó là hàng thứ sáu, tức là theo thứ tự liên tục đếm dần mãi lên thì nó vào hàng thứ sáu. Hỏi: Thức trụ là gì? Đáp: Tức là với thân phiền lụy nầy có đủ cả các uẩn sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Gọi chung là thức trụ. Không có sắc, là loài hữu tình không có sắc ấy, đặt lập ra, thân không có sắc, không có các thứ xứ có sắc, giới có sắc, uẩn có sắc, cho nên gọi là không có sắc. Hữu tình, tức là theo nghĩa chắc thật cao tột. Vì dù các loài hữu tình không thể thâu nhận được, chẳng thể được, không có, không hiện hữu, như y vào các uẩn, xứ giới mà giả lập ra loài hữu tình. Với các tưởng tưởng đặt ra nói là có chuyển đổi mà gọi là loài hữu tình theo ý người. Rồi có sinh ra mạng nhu đồng, có sinh ra, có nuôi dưỡng để trở thành Bổ-đặc-già-la. Nên gọi là hữu tình. Vượt tất cả Thức vô biên xứ mà nhập vào vô sở hữu trụ đầy đủ vào Vô sở hữu xứ, như cõi trời Vô sở hữu xứ. Nghĩa là chỉ bày chung cho cõi trời Vô sở hữu xứ. Đó là hàng thứ bảy, tức là theo thứ tự liên tục đếm dần lên thì nó là hàng thứ bảy. Hỏi: Thức trụ là gì? Đáp: Tức là với cái thân phiền lụy nầy có đủ cả các uẩn sắc, thọ, tưởng, hành, thức, gọi chung là thức trụ. Có bảy thứ tùy miên: 1. Tham dục tùy miên. 2. Sân giận tùy miên. 3. Có tham tùy miên. 4. Mạn tùy miên. 5. Vô minh tùy miên. 6. Kiến tùy miên. 7. Nghi tùy miên. - Tham dục tùy miên là sao? Đáp: Nếu đối với các dục mà tham lam ham hố, cho đến rộng nói. Nên gọi là tham dục tùy miên. - Thế nào là sân giận tùy miên? Đáp: Nếu đối với các loài hữu tình muốn gây các tổn hại. Cho đến rộng nói, thì gọi là sân giận tùy miên. - Thế nào là có tham tùy miên? Đáp: Đối với có sắc hay không sắc mà tham lam. Cho đến rộng ===== PAGE 278 ===== 278 BỘ TỲ ĐÀM 1 nói, thì gọi là có tham tùy miên. - Thế nào là mạn tùy miên? Đáp: Bị các thứ kiêu mạn hỗn láo bao vây cột chặt. Cho đến rộng nói thì gọi là mạn tùy miên. - Thế nào là vô minh tùy miên? Đáp: Khắp trong ba cõi đều không có trí, thì gọi là vô minh tùy miên. - Thế nào là kiến tùy miên? Đáp: Có năm thứ chấp thì gọi là kiến tùy miên. - Thế nào là nghi ngờ tùy miên? Đáp: Đối với các chân lý, các điều chắc thật mà còn do dự nghi ngờ thì gọi là nghi tùy miên. Có bảy sự không lầm lỗi: 1. Quý vị nên biết: Có hàng đệ tử Phật ở chỗ Như Lai tu tập gieo trồng các thứ tịnh tín, sinh căn, an trụ nên không bị các Sa-môn hay Bà- la-môn hoặc Thiên ma phạm hay một cõi thế gian khác dẫn dụ cướp đoạt, đó gọi là sự không lầm lỗi thứ nhất. 2. Lại quý vị nên biết: Có hàng đệ tử của Phật luôn an trụ sống trong giới hạnh thanh tịnh, chuyên cần siêng năng gìn giữ cẩn thận các giới luật Biệt giải thoát, các quy tắc điều lệ, trong mọi hoạt động việc làm đều tuân hành đầy đủ. Đối với các lỗi rất nhỏ nhưng áy náy lo sợ rất lớn... Thường tìm học đủ các môn học (ở những nơi có dạy) và luôn tuân giữ đúng đắn không hể hủy phạm. Đó là sự không lầm lỗi thứ hai. 3. Lại quý vị nên biết: Có hàng đệ tử Phật luôn gần gũi kết bạn với các bạn lành, cùng khéo léo sử sự khi giao tế chơi thân. Đó là sự không lầm lỗi thứ ba. 4. Và quý vị nên biết: Có hàng đệ tử Phật thường thích ở những nơi vắng vẻ yên tịnh đầy đủ cả hai thứ lìa bỏ tức là các sự lìa bỏ của thân của tâm. Đó gọi là sự không lầm lỗi thứ tư. 5. Lại quý vị nên biết: Có hàng đệ tử Phật luôn sống an trụ trong sự siêng năng chuyên cần. Luôn có sức hăng hái cố gắng rất mạnh mẽ bền bỉ kiên trì. Đối với các pháp thiện không bao giờ buông bỏ các nguyên tắc bắt buộc. Đó gọi là sự không lầm lỗi thứ năm. 6. Lại nữa quý vị nên biết: Có hàng đệ tử Phật luôn an trụ trong cụ niệm, thành tựu tuyệt diệu các thường dựa vào các chi niệm. Những việc làm đã lâu, những lời nói đã xưa đều nhớ rất kỹ. Đó là sự không lầm lỗi thứ sáu. 7. Và quý thầy nên biết: Có hàng đệ tử Phật luôn an trụ sống ===== PAGE 279 ===== SỐ 1536 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA TẬP DỊ MÔN TÚC - Quyển 17 279 trong cụ tuệ (tuệ toàn vẹn đầy đủ), thành tựu tốt các thứ tuệ, như tuệ có sinh mắt thế gian, thánh tuệ, xuất tuệ, tuệ khéo thông đạt, tuệ bỉ sở tác (do nó tạo ra) và tuệ chánh tận khổ... Đó gọi là điều không lầm lỗi thứ bảy. Ở chỗ Như Lai mà tu hành gieo trồng tịnh tín. Như Lai là gì? Như Lai là bậc Chánh Đẳng Giác (Đấng giác ngộ hoàn toàn). Tịnh tín là gì? Tức là dựa vào các pháp thiện, các loại đức tin, tính chất của đức tin do xuất ly và xa lìa sinh ra. Rộng nói cho đến tính chất thanh tịnh tâm, nên gọi là tịnh tín. Với cái tịnh tín đó ở chỗ Như Lai mà đã đang hay sẽ ra sức tu hành và gieo trồng. Thuộc hàng thứ nhất, tức là theo thứ tự và liên tục đếm dần lên thì nó ở hàng thứ nhất. Sự không lỗi lầm, nghĩa là chỉ rõ cái tình trạng đã được thanh tịnh, đã đoạn dứt vĩnh viễn các lầm lỗi... Luôn sống an trụ trong tịnh giới (giới hạnh thanh tịnh) Hỏi: Thế nào là tịnh giới? Đáp: Tức là các nghiệp đã làm nghĩa là giữ thân nghiệp, ngữ nghiệp đúng phép tắc giới luật và có đời sống thanh tịnh, nên gọi là tịnh giới. An trụ, nghĩa là thành tựu được tịnh giới, luôn tu hành các hạnh cao quý, thẳng tiến đến chỗ chứng ngộ. Đó gọi là an trụ. Chuyên cần siêng năng giữ gìn các giới luật biệt giải thoát. Hỏi: Thế nào là biệt giải thoát? Đáp: Nghĩa là các Như Lai bậc chánh đẳng giác rộng nói cho đến Phật, Bạt già phạm đã tự mình thấy biết, vì các vị Bí-sô cứ mỗi nửa tháng thường tuyên nói các Khế kinh điều luật biệt giải thoát. Hỏi: Do nguyên nhân nào mà nói là biệt giải thoát? Đáp: Tức là các pháp thiện cao quý nhất thường lấy đây, (giới luật) làm cửa vào, các giới luật là pháp môn đứng đầu cao quý nhất, nó cũng là điều kiện đầu tiên, cần phải làm riêng, ở riêng do đó nên đặt tên là biệt giải thoát. Siêng năng giữ gìn giới luật nầy, nghĩa là đối với các pháp biệt giải thoát mà luôn tuân hành là theo như thế xoay chuyển theo. Các quy tắc điều lệ của các hoạt động đều tuân giữ đầy đủ. Nghĩa là toàn chúng Bí-sô có năm việc trái với quy điều luật lệ, và năm chỗ không nên đi đến. Năm việc trái với quy tắc điều lệ là: 1. Tội hơn người khác. ===== PAGE 280 ===== 280 BỘ TỲ ĐÀM 1 2. Tội khác đại chúng. 3. Tội bị đọa, bị nấu đốt. 4. Tội đầu riêng. 5. Tội làm ác. Năm chỗ không nên đi đến: 1. Cung vua. 2. Nhà làm ác. 3. Nhà gái dâm (thanh lâu). 4. Nhà có âm nhạc. 5. Quán rượu. Hàng đệ tử Phật đối với năm việc chẳng nên làm, năm nơi không nên đến mà luôn xa lìa từ bỏ không bao giờ làm. Còn đối với các quy điều chân chánh các việc đúng đáng vâng giữ đáng làm thì luôn tuân hành thành tựu đầy đủ. Đối với các lỗi nhỏ nhưng lo sợ ái náy lớn, là đối với cái tội rất nhỏ khi khởi lên thì vô cùng lo âu ái náy sợ sệt. Thường tìm học các môn học không hề chê bai sai phạm, là các đệ tử Phật thì không nên bảo: Với môn học nào thì ta cần siêng năng tu học, còn với môn học kia thì ta không cần phải siêng năng tu học... mà các đệ tử Phật nên thường nghĩ: Tất cả chư Phật Như Lai ứng chánh đẳng giác, rộng kể cho đến Phật, Bạc-già-phạm và những bậc thấy biết đầy đủ đúng đắn cho nên tất cả những điều đặt ra dựng nên, tất cả các môn học, ta đều phải học và luôn luôn không bao giờ chê bai, sai phạm. Đó là hàng thứ hai, tức là theo thứ tự liên tục đếm dần lên thì nó là hàng thứ hai. Sự (điều) không lầm lỗi, là chỉ rõ sự được thanh tịnh, và dứt hết các lỗi lầm. Gần gũi với bạn lành. Thế nào là bạn lành? Bạn lành là chỉ cho tất cả các Như Lai bậc Chánh Đẳng Giác và các đệ tử Phật, cũng chỉ cho các Bổ-đặc-già-la có đầy đủ giới và đức. Đối với các bạn lành đó mà gần gũi, gần gũi mãi, liên tục thường xuyên cùng cực và tùy thuận thờ phụng hầu hạ cúng dường cung kính. Thế nên nói là gần gũi thân cận bạn lành. Thế nào gọi là khéo kết bạn thân? Tức là các thứ giết hại, trộm cướp, dâm dục tà hạnh, nói dối hoặc uống các thứ rượu..., đều luôn xa lìa, dứt trừ từ bỏ, chán sợ, ghê tởm và dứt trừ thật hết hẳn nên gọi là thiện. Và cùng với những người thiện đó mà kết làm bạn thân, tùy ===== PAGE 281 ===== SỐ 1536 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA TẬP DỊ MÔN TÚC - Quyển 17 281 thuận hướng đến chỗ thân tâm không còn thấy có hai. Thế nên nói khéo kết làm bạn. Thế nào là khéo sử sự giao tế? Đối với các bậc đầy đủ đức tin, uy tín, giới hạnh, đa văn học nhiều, đầy đủ buông xả, trí tuệ và tùy theo cùng xoay sở, chuyển dời, lệ thuộc, phụ trợ, tùy thuận không trái nghịch. Lại còn như đối với pháp thiện, đầy đủ pháp, từ bỏ, xa lìa và tùy theo cùng xoay chuyển, lệ thuộc, tùy thuận không trái nghịch. Và lại đối với đầy đủ pháp thiện xuất ly v.v..., xa lìa mà dù một niềm vui, một sự ham muốn, một vui mừng một yêu mến..., thì đều cùng vui, muốn, mừng, yêu..., cho nên gọi là khéo giao tế xử sự. Đó là hàng thứ ba, tức là theo thứ tự liên tục đếm mãi lên thì nó ở hàng thứ ba. Không có sự lầm lỗi, tức là chỉ việc đã đoạn dứt và được thanh tịnh. Thế nào gọi là thích ở nơi thanh vắng? Các chỗ nào không có nhà cửa thì gọi là chỗ thanh vắng. Nếu ở nơi đó mà luôn vui vẻ mến thích, chẳng sầu lo tâm không nản sợ, thì gọi là thích ở chỗ thanh vắng. Đủ hai thứ xa lìa tức là thân và tâm đều lìa bỏ, nghĩa là ở nơi thanh vắng mà thường siêng năng tu học, trong nội tâm luôn vắng lặng ngừng nghỉ thôi dứt, nhưng lại không lìa tĩnh lự, thiền định và thành tựu sự quan sát tuyệt diệu. Ở chỗ thanh vắng không có nhà cửa đông đúc mà siêng tu các nghĩa lý của mình. Giỏi siêng năng tu học, nội tâm luôn yên lặng, thôi, dứt, nghĩa là ở nơi đó luôn chuyên cần siêng gắng, tu học bốn thứ thiền định của thế gian. Chẳng lìa bỏ tĩnh lự thiền định, là ở trong thế gian với bốn thứ thiền định luôn luôn siêng năng suy tư không thấp kém hay gián đoạn bỏ phế, nên nói là chẳng có khó khăn việc tĩnh lự thiền định. Thành tựu sự quan sát tuyệt diệu, là đối với bốn thứ thiền định ở thế gian luôn tương ưng với trí tuệ tuyệt diệu thành tựu đầy đủ. Luôn ở nơi vắng vẻ không nhà cửa, là ở nơi vắng vẻ không nhà cửa đông đúc, do sức chọn lựa tốt mà luôn vui vẻ mến thích không hề sầu lo buồn chán, lại hay thêm lớn các pháp thiện cho thân và tâm. Nên nói là thích ở nơi vắng không nhà cửa. Siêng tu các nghĩa lý của mình, nghĩa là gốc ái dục đã trừ, lìa bỏ, diệt độ và Niết-bàn gọi là nghĩa cao tột nhất, đó cũng là nghĩa lý của mình, đối với nghĩa đó siêng năng tu học, mong cầu nhanh chóng được chứng các quả vị, nên nói là siêng tu tự nghĩa. ===== PAGE 282 ===== 282 BỘ TỲ ĐÀM 1 Đó là hàng thứ tư, tức là theo thứ tự liên tục đếm dần lên thì nó ở hàng thứ tư. Sự không lầm lỗi, tức là chỉ rõ sự thanh tịnh trong sạch càng nhiều của lời nói, trụ vào sự siêng năng chuyên cần. Thế nào là tinh tấn? Đối với pháp thiện sinh ra từ xuất ly, xa lìa, siêng năng mạnh mẽ cố gắng nổ lực luôn, khuyến khích tâm gắng sức mãi không gì ngăn cản được thì gọi là tinh tấn. Do người ấy thành tựu được sự tinh tấn như thế, nên đối với sự tu tập, thường hay làm được các hạnh cao quý, thẳng tiến đến chỗ chứng ngộ. Trụ vào thế mạnh, là người ấy siêng năng ở mức cao vẹn toàn nên gọi là có thế lực. Có chuyên cần, tức là chỉ rõ sự siêng năng chắc chắn bền bỉ, nên gọi là có chuyên cần. Có hăng hái mạnh mẽ, là do đã thành tựu được sức tinh tấn đó cho nên mạnh mẽ quyết chắc, bền bỉ kiên trì và lanh lợi dũng cảm mà chấp chặt mà giữ lấy. Các điều giữ lấy chấp chặt đó đều là pháp thiện không xấu xa tội lỗi, nên tùy theo hình tướng đó chấp lấy, giữ gìn mãi không buông bỏ, như chiếm được nước khác thì phải khéo léo giữ gìn. Đối với các pháp thiện luôn luôn không bỏ các nguyên tắc bắt buộc, là đối với các pháp thiện không buông bỏ sự chuyên cần luôn hăng hái siêng năng không gián đoạn. Đó là hàng thứ năm, tức là theo thứ tự liên tục đếm mãi lên thì nó ở hàng thứ năm. Sự không lỗi lầm, là chỉ bày rõ sự thanh tịnh. An trụ vào cụ niệm. Thế nào là niệm? Nếu dựa vào pháp thiện sinh ra do xuất ly, xa lìa mà các niệm theo đó nhớ nghĩ mãi, cho đến rộng nói thì gọi đó là niệm. Thành tựu tuyệt diệu các việc dựa vào (thường ủy) chi niệm, nghĩa là tám chi Thánh đạo thì gọi là thường ủy Niệm đây là một trong tám chi đó, tức là chi chánh niệm. Việc làm và lời nói lâu xa đều nhớ kỹ, là do niệm nầy mà các việc đã làm qua thì không hề quên mất mà ghi nhớ rõ ràng. Đó là hàng thứ sáu, tức là theo thứ tự liên tục đếm mãi lên thì nó ở hàng thứ sáu. Sự không lỗi lầm, là chỉ bày cho việc lời nói ngày càng thanh tịnh. An trụ vào cụ tuệ. Thế nào gọi là tuệ? Nếu dựa vào pháp thiện sinh ra do xuất ly, từ bỏ và đối với các pháp tướng lại giỏi chọn lựa, ===== PAGE 283 ===== SỐ 1536 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA TẬP DỊ MÔN TÚC - Quyển 17 283 tuyển chọn cùng cực... Rộng nói cho đến Tỳ-bát-xá-na nên gọi đó là tuệ. Nói an trụ, là do đã thành tựu được tuệ đó rồi, nên đối với các pháp tướng thường hay làm được các hạnh cao quý, thẳng tiến đến chỗ chứng ngộ. Thành tựu được tuệ xuất một ở thế gian. Thế gian nghĩa là năm uẩn. Năm uẩn đó là: Sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Do vì đã thành tựu được tuệ như thế nên có thể biết đúng thực năm thủ uẩn nầy sinh ra và biến đổi, tan mất đi. Do đó nên nói là cái tuệ xuất một ở thế gian. Thánh tuệ, có hai thứ: Một là tốt lành nên gọi là thánh và hai là vô lậu cũng gọi là thánh. Thứ tuệ nầy có đủ hai thứ thánh đó, nên gọi là thánh tuệ. Xuất tuệ, là do đã thành tựu được tuệ như thế, nên có thể xuất ly, vượt thoát ra khỏi cõi Dục và cả cõi Sắc, cõi Vô sắc nữa, nên gọi là xuất tuệ. Tuệ khéo thông suốt, là do thành tựu được tuệ ấy rồi cho nên đối với các đế khổ-tập-diệt-đạo và do các tướng khổ tập diệt đạo mà giỏi thấu suốt hiểu biết rõ ràng một cách khéo léo, giỏi giang, riêng biệt từng thứ, nên gọi là tuệ khéo thông suốt. Tuệ tự gây nên (do nó làm ra), là do người ấy học đạo không gián đoạn cho nên có được tuệ cao quý đó. Ở đây gọi đó là tuệ do nó làm ra. Tuệ chánh tận khổ (tuệ diệt hết khổ). Thế nào là chánh? Đó là nhân, là cửa vào đạo, là lý thú (lý được hướng tới), là hành tướng của đạo. Thế nên gọi là chánh. Tận khổ tuệ (tuệ diệt khổ). Năm thứ uẩn gọi là khổ. Vì tuệ nầy có thể diệt hết năm thủ uẩn, diệt hết, hết tất cả, hết trọn vẹn và chứng được sự diệt hết vĩnh viễn, cho nên gọi là tuệ diệt hết khổ. Đó là hàng thứ bảy, tức là theo thứ tự liên tục đếm dần lên thì nó ở hàng thứ bảy. Sự không lỗi lầm, là chỉ bày lời nói càng thanh tịnh. Trong đây Thế Tôn nói kệ: Đủ tín, giới, bạn lành Ở chỗ vắng siêng năng Thành tựu niệm, biết đúng Là bảy sự không lỗi. Có bảy pháp ngăn việc tranh cãi: ===== PAGE 284 ===== 284 BỘ TỲ ĐÀM 1 1. Hiện tiền Tỳ-nại-da. 2. Nhớ nghĩ Tỳ-nại-da. 3. Bất si Tỳ-nại-da. 4. Cầu tự tánh Tỳ-nại-da. 5. Nhận giữ lời của nhiều người Tỳ-nại-da. 6. Nhận giữ lời mình nói Tỳ-nại-da. 7. Như cỏ che mặt đất Tỳ-nại-da. Đó là bảy pháp ngăn sự tranh cãi. Hỏi: Vì sao lại gọi là bảy pháp ngăn sự tranh cãi? Đáp: Tranh cãi nghĩa là có kia có đây, có người có ta nên có tranh cãi, tranh giành nghịch thù nhau... Do bảy pháp nầy một khi hiện ra thì có thể khiến việc tranh cãi đó ngưng lại, dứt đi. Do đó mà gọi là pháp ngăn tranh cãi. ===== PAGE 285 ===== SỐ 1536 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA TẬP DỊ MÔN TÚC - Quyển 18 285 LUẬN A TỲ ĐẠT MA TẬP DỊ MÔN TÚC