A-tỳ-đạt-ma Tập Dị Môn Túc Luận · Quyển 5
阿毘達磨集異門足論 · T1536
Hán văn
尊者舍利子說 三藏法師玄奘奉 詔譯 三法品第四之三 三受者,一、樂受;二、苦受;三、不苦不樂受。樂受 云何?答:順樂受觸所生身樂心樂平等受受 所攝,是謂樂受。復次修初、第二、第三靜慮時, 順樂受觸所生身樂心樂平等受受所攝,是 謂樂受。苦受云何?答:順苦受觸所生身苦心 苦不平等受受所攝,是謂苦受。不苦不樂受 云何?答:順不苦不樂受觸所生身捨心捨非 平等非不平等受受所攝,是謂不苦不樂受。 如世尊說: 「具念定正知,諸佛真弟子, 能正知諸受,令貪等不生; 於諸受及道,俱令漸次滅, 苾芻受盡故,無影般涅槃。」 三苦性者,一、苦苦性;二、壞苦性;三、行苦性。苦 苦性云何?答:欲界諸行由苦苦故苦。壞苦性 云何?答:色界諸行由壞苦故苦。行苦性云何? 答:無色界諸行由行苦故苦。復次不可意諸 行由苦苦故苦,可意諸行由壞苦故苦,順捨 諸行由行苦故苦。復次若諸苦受、若彼相應 法、若彼俱有法,若從彼生,若彼種類不可愛 異熟果由苦苦故苦。若諸樂受、若彼相應法、 若彼俱有法,若從彼生,若彼種類可愛異熟 果由壞苦故苦。若不苦不樂受、若彼相應法、 若彼俱有法,若從彼生,若彼種類非可愛非 不可愛異熟果由行苦故苦。復次苦苦性云 何?答:諸身所有由苦苦故苦。所以者何?依身 生起老病死等種種苦故。壞苦性云何?答:如 世尊說,可意朋友、可意眷屬、可意境界,若變 壞時、若遭毀謗𣣋蔑等時,發生愁歎憂苦悲 惱,彼於爾時由壞苦故苦。行苦性云何?答:除 苦苦性及壞苦性,諸餘有漏行由行苦故苦。 三慢類者,一、我勝慢類;二、我等慢類;三、我劣 慢類。我勝慢類云何?答:如有一類作是念言: 我之種族形色、作業工巧、財位壽量力等,或 總或別皆勝於彼,由此起慢、已慢、當慢,心高 舉、心恃蔑,是謂我勝慢類。我等慢類云何?答: 如有一類作是念言:我之種族形色、作業工 巧、財位壽量力等,或總或別皆等於彼,由別 因緣而起於慢、已慢、當慢,心高舉、心恃蔑,是 謂我等慢類。我劣慢類云何?答:如有一類作 是念言:我之種族形色、作業工巧、財位壽量 力等,或總或別皆劣於彼,由別因緣而起於 慢、已慢、當慢,心高舉、心恃蔑,是謂我劣慢 類。 第四嗢柁南曰: 四三法有十,謂火福欲樂, 及慧根眼仗,六一火慧二。 有三火、三福業事、三欲生、三樂生、三慧、三根、三 眼、三仗。火慧各二,餘六各一。 初三火者,一、 貪火;二、瞋火;三、癡火。貪火云何?答:謂於欲境 諸貪等貪,執藏防護堅著愛樂,迷悶耽嗜遍 耽嗜內縛欲求耽湎,苦集貪類貪生,總名為 貪。由此貪愛所蔽伏者,發生種種身熱心熱 身心俱熱、身燒心燒身心俱燒、身惱心惱身 心俱惱。又由貪愛纏為緣故,長夜領受不可 愛不可樂不可欣不可意異熟果,是謂貪火。 瞋火云何?答:謂於有情欲為損害,內懷栽杌 欲為擾惱,已瞋當瞋現瞋,樂為過患、極為過 患,意極忿恚,於諸有情各相違戾欲為過患, 已為過患、當為過患、現為過患,總名為瞋。由 此瞋恚所蔽伏者,發生種種身熱心熱身心 俱熱、身燒心燒身心俱燒、身惱心惱身心俱 惱。又由瞋恚纏為緣故,長夜領受不可愛不 可樂不可欣不可意異熟果,是謂瞋火。癡火 云何?答謂於前際無知、後際無知、前後際無 知,廣說乃至癡類癡生、改類改生,總名為 癡。由此愚癡所蔽伏者,發生種種身熱心熱 身心俱熱、身燒心燒身心俱燒、身惱心惱身 心俱惱。又由愚癡纏為緣故,長夜領受不可 愛不可樂不可欣不可意異熟果,是謂癡火。 如世尊說: 「諸有愚夫類,貪瞋癡火燒, 如次耽欲境,害生憎聖法。 於三毒熾火,若不如實知, 便耽著有身,不能趣寂滅。 由斯履邪路,墮三惡趣中, 受劇苦淪迴,不解脫魔縛。 正等覺弟子,晝夜常精進, 以穢想慈慧,如次滅三火。 從斯入聖道,降伏諸魔軍, 證得二涅槃,清涼無取漏。」 後三火者,一、應奉事火;二、應給施火;三、應 供養火。應奉事火云何?答:父母是子所應奉 事。如世尊為高直身形婆羅門說,云何名為 應奉事火?謂世父母應受其子種種樂具隨 處隨時無倒奉事。云何其子以諸樂具隨處 隨時無倒奉事應奉事火?謂族姓子以精進 力及手足力若汗血力,如法所得財物樂 具,隨處隨時無倒奉事供養父母。何故名為 應奉事火?謂族姓子從彼而生、由彼長養乃 得成立,是故父母諸佛說為應奉事火。應給 施火云何?答:妻子奴婢作使親友,是其家主 所應給施。如世尊為高直身形婆羅門說,云 何名為應給施火?謂世妻子奴婢作使及諸 親友,應受家主種種樂具隨處隨時無倒給 施。云何家主以諸樂具隨處隨時無倒給施 應給施火?謂族姓子以精進力及手足力若 汗血力如法所得財物樂具,隨處隨時無倒 給施妻子奴婢作使親友。何故名為應給施 火?謂族姓子如法居家,其妻子等無倒承事, 如教為作所應作業,令無匱乏速得成辦。 是故妻子奴婢作使及諸親友,諸佛說為應 給施火。應供養火云何?答:真沙門婆羅門,是 諸施主所應供養。如世尊為高直身形婆羅 門說,云何名為應供養火?謂沙門婆羅門,若 已離貪或復修行調伏貪行、若已離瞋或復 修行調伏瞋行、若已離癡或復修行調伏癡 行,如是沙門及婆羅門應受施主種種樂具 隨處隨時無倒供養。云何施主以諸樂具隨 處隨時無倒供養應供養火?謂族姓子以精 進力及手足力若汗血力如法所得財物樂 具,隨處隨時無倒供養。如前所說諸沙門婆 羅門,何故名為應供養火?謂族姓子供養阿 羅漢及諸有學者,彼是世間真福田故,能令 施主於中樹福,感得最勝此世他世富樂異 熟及解脫果,是故真沙門及真婆羅門諸佛 說為應供養火。餘世間火非應奉事給施供 養,彼不能令諸有情類得勝果故。如世尊 說: 「智者能如法,祭事前三火, 生有樂世間,證無苦解脫。」 三福業事者,一、施類福業事;二、戒類福業事; 三、修類福業事。施類福業事者,云何施類、云 何福、云何業、云何事而說施類福業事耶?答: 施類者,謂施主布施諸沙門婆羅門貧窮苦 行道行乞者,飲食湯藥衣服花鬘塗散等香。 房舍臥具燈燭等物,是名施類。復次或由身 布施,謂或施身、或施身業;或施所捨物或由 語布施,謂或施語、或施語業;或施所捨物或 由意布施,謂或施意、或施意業、或施捨心,是 名施類。福者,謂施俱行身律儀、語律儀、命清 淨,是名福。業者,謂施俱行諸思,等思現等思 已思思類,作心意業,是名業。事者,謂施主、受 者及所施物,是名事。此中施類名施類,亦名 福、亦名業、亦名事。此中福名為福,亦名業、亦 名事、亦名施類。此中業名為業,亦名事、亦名 施類、亦名福。此中事唯名事。戒類福業事者, 云何戒類、云何福、云何業、云何事而說戒類 福業事耶?答:戒類者,謂離害生命、離不與取、 離欲邪行、離虛妄語、離飲窣羅迷麗耶末陀 放逸處酒,是名戒類。福者,謂戒俱行身律儀、 語律儀、命清淨,是名福。業者,謂戒俱行諸思, 等思現等思已思思類,作心意業,是名業。事 者,謂若防若止若遮若離害生命事,是離害 生命事。若防若止若遮若離不與取事,是離 不與取事。若防若止若遮若離欲邪行事,是 離欲邪行事。若防若止若遮若離虛妄語事, 是離虛妄語事。若防若止若遮若離飲窣羅 迷麗耶末陀放逸處酒事,是離飲諸酒事。是 名事。此中戒類名為戒類,亦名福亦名業亦 名事。此中福名為福,亦名業亦名事亦名戒 類。此中業名為業,亦名事亦名戒類亦名福。 此中事名為事,亦名戒類亦名福亦名業。修 類福業事者,云何修類、云何福、云何業、云何 事而說修類福業事耶?答修類者,謂慈悲喜 捨四無量,是名修類。福者,謂無量俱行身律 儀、語律儀、命清淨,是名福。業者,謂無量俱行 諸思,等思現等思已思思類,作心意業,是名 業。事者,謂所緣事緣彼而起四無量,是名事。 此中修類名為修類,亦名福亦名業亦名事。 此中福名為福,亦名業亦名事亦名修類。此 中業名為業,亦名事亦名修類亦名福。此中 事唯名事。如世尊說: 「智者能依法,勤學施戒修, 生無苦世間,受三種樂果。」 三欲生者,有諸有情樂受現前諸妙欲境,彼 於現前諸妙欲境富貴自在轉,謂人全、天一 分,是第一欲生。有諸有情樂受自化諸妙欲 境,彼於自化諸妙欲境富貴自在轉,謂樂變 化天,是第二欲生。有諸有情樂受他化諸妙 欲境,彼於他化諸妙欲境富貴自在轉,謂他 化自在天,是第三欲生。此中有諸有情者,謂 諸有情諦義勝義不可得不可近得、非有非 現有,但於諸蘊界處由想等想假言說轉謂 為有情、那羅、意生、儒童、命者、生者、養者、士夫、補 特伽羅,由斯故說有諸有情樂受現前。諸妙 欲境者,謂彼有情恒樂受用藏護積集委寄 安置,隨本所生現前欲境。彼於現前諸妙欲 境富貴自在轉者,謂彼有情於所受用藏護 積集委寄安置,隨本所生現前欲境有勢力 得自在隨意受用。謂人全者,顯一切人。天一 分者,顯欲界下四天。是第一者,謂隨算數漸 次順次相續次第,此居第一。欲生者,謂此於 欲界生。復次有諸有情者,謂諸有情諦義勝 義不可得,廣說如前。樂受自化諸妙欲境者, 謂樂變化天造化增長如是類業,彼由此業 隨所愛樂,化作種種男女等事而自娛樂,謂 若天女化作天男而自娛樂、若諸天男化作 天女而自娛樂。彼於自化諸妙欲境富貴自 在轉者,謂樂變化天造作增上如是類業,彼 由此業隨所愛樂化作種種男女等事,彼於 此事有勢力得自在隨意受用。謂樂變化天 者,顯一切樂變化天。是第二者,謂隨算數漸 次順次相續次第,此居第二。欲生者,謂此於 欲界生。復次有諸有情者,謂諸有情諦義勝 義不可得,廣說如前。樂受他化諸妙欲境者, 謂他化自在天造作增長如是類業,彼由此 業與諸他化自在天雖同一類身、同一趣、同 一生、同一進趣,而有高下勝劣差別。諸下劣 天子化作種種色聲香味觸諸妙欲境,令高 勝天子於中受用。彼於他化諸妙欲境富貴 自在轉者,謂他化自在天造作增長如是類 業,彼由此業隨所愛樂,令他下劣天子化作 種種色聲香味觸諸妙欲境,彼高勝天子於 此欲境有勢力得自在隨意受用。譬如梵天 雖同類、同一趣、同一生、同一進趣,而有高下 勝劣差別,謂梵眾天下劣、梵輔天高勝,梵輔 天下劣、大梵天高勝。他化自在天亦復如是, 造作增長如是類業,彼由此業,廣說如前。謂 他化自在天者,顯一切他化自在天。是第三 者,謂隨算數漸次順次相續次第,此居第三。 欲生者,謂此於欲界生。 三樂生者,有諸有情,即如是身,離生喜樂之所 滋潤遍滋潤、適悅遍適悅、充滿遍充滿,滋 潤乃至遍充滿已安樂而住,謂梵眾天,是第 一樂生。有諸有情,即如是身,定生喜樂之所 滋潤遍滋潤、適悅遍適悅、充滿遍充滿,滋潤 乃至遍充滿已安樂而住,謂極光淨天,是第 二樂生。有諸有情,即如是身,離喜之樂之所 滋潤遍滋潤、適悅遍適悅、充滿遍充滿,滋潤 乃至遍充滿已安樂而住,謂遍淨天,是第三樂 生。此中有諸有情者,謂諸有情諦義勝義不 可得不可近得非有非現有,但於諸蘊界處, 由想等想假言說轉,謂為有情、那羅、意生、儒 童、命者、生者、養者、士夫、補特伽羅,由斯故說有 諸有情。即如是身者,身名為身、身業亦名身、 身根亦名身、五有色根亦名身、四大種聚亦 名身,今此義中意說四大種聚身,故說即如 是身。離生喜樂者,謂初靜慮中所可得樂平 等受受所攝,是名離生喜樂。之所滋潤遍滋 潤、適悅遍適悅、充滿遍充滿者,謂梵眾天於 此離生喜樂隨欲而得無艱無難,即此離生 喜樂,起等起、生等生,聚集出現,能令如是四 大種聚身,滋潤遍滋潤、適悅遍適悅、充滿遍 充滿。滋潤乃至遍充滿已安樂住者,謂彼爾 時由離生喜樂,身心無苦惱安樂而住。如世 尊於《分別生記經》中說:苾芻當知,如修定者 從此處沒生梵眾天,數現受離生喜樂。彼先 住此入初靜慮,亦數現受離生喜樂。彼先後 所受離生喜樂無異無差別,依定等故。謂先 此間於初靜慮若習若修若多所作,後方生 彼梵眾天故。二所受離生喜樂品類相似,謂 梵眾天者顯初靜慮。梵眾等天是第一者,謂 隨算數漸次順次相續次第,此居第一。樂生 者,謂此生處長時受安隱樂,離苦樂、樂受樂, 故名樂生。復次有諸有情者,謂諸有情諦義 勝義不可得,廣說如前。即如是身者,身名為 身,乃至廣說。定生喜樂者,謂第二靜慮中所 可得樂平等受受所攝,是名定生喜樂。之所 滋潤遍滋潤、適悅遍適悅、充滿遍充滿者,謂 極光淨天於此定生喜樂隨欲而得無艱無 難,即此定生喜樂起等起、生等生,聚集出現, 能令如是四大種聚身,滋潤遍滋潤、適悅遍 適悅、充滿遍充滿。滋潤乃至遍充滿已安樂 住者,謂彼爾時由定生喜樂,身心無苦惱安 樂而住。如世尊於《分別生記經》中說:苾芻當 知,如修定者從此處沒生極光淨天,數數現 受定生喜樂。彼先住此入第二靜慮,亦數現 受定生喜樂。彼先後所受定生喜樂,無異無 差別,依定等故。謂先此間於第二靜慮若 習若修若多所作,後方生彼極光淨天故,二 所受定生喜樂品類相似。謂極光淨天者,顯 第二靜慮極光淨等天。是第二者,謂隨算數 漸次順次相續次第,此居第二。樂生者,謂此 生處長時受安隱樂、離苦樂、樂受樂,故名樂 生。復次有諸有情者,謂諸有情諦義勝義不 可得,廣說如前。即如是身者,身名為身,乃至 廣說。離喜之樂者,謂第三靜慮中所可得樂 平等受受所攝,是名離喜之樂。之所滋潤遍 滋潤、適悅遍適悅、充滿遍充滿者,謂遍淨天 於此離喜之樂隨欲而得無艱無難,即此離 喜之樂起等起、生等生,聚集出現,能令如是 四大種聚身,滋潤遍滋潤、適悅遍適悅、充滿 遍充滿。滋潤乃至遍充滿已安樂住者,謂彼 爾時由離喜之樂,身心無苦惱安樂而住。如 世尊於《分別生記經》中說:苾芻當知,如修定 者從此處沒生遍淨天,數數現受離喜之樂。 彼先住此入第三靜慮,亦數現受離喜之樂。 彼先後所受離喜之樂,無異無差別,依定等 故。謂先此間於第三靜慮若習若修若多所 作,後方生彼遍淨天故,二所受離喜之樂品 類相似。謂遍淨天者,顯第三靜慮遍淨等 天。是第二者,謂隨算數漸次順次相續次 第,此居第三。樂生者,謂此生處長時受安隱 樂、離苦樂、樂受樂,故名樂生。 初三慧者,一、聞所成慧;二、思所成慧;三、修所 成慧。聞所成慧云何?答:因聞依聞由聞建立, 於彼彼處有勢力得自在正遍通達。其事如 何?如有苾芻,或受持素呾纜、或受持毘奈 耶、或受持阿毘達磨,或聞親教師說、或聞軌 範師說、或聞展轉傳授藏說、或聞隨一如理 者說,是名為聞。因此聞依此聞由此聞建立 故,於彼彼處有勢力得自在正遍通達,是名 聞所成慧。思所成慧云何?答:因思依思由思 建立,於彼彼處有勢力得自在正遍通達。其 事如何?謂如有一如理思惟書數算印,或隨 一一所作事業,是名為思。因此思依此思由 此思建立故,於彼彼處有勢力得自在正遍 通達,是名思所成慧。修所成慧云何?答:因修 依修由修建立,於彼彼處有勢力得自在正 遍通達。其事如何?謂如有一方便善巧自勤 修習諸離染道,由此所修離染道故,離欲惡 不善法,有尋有伺離生喜樂入初靜慮具足 住,廣說乃至入第四靜慮具足住,是名為修。 因此修依此修由此修建立故,於彼彼處有 勢力得自在正遍通達,是名修所成慧。有作 是說,如此亦是思所成慧。所以者何?唯依佛 法不共所修乃可名為修所成慧。今此義中 依諸等引所起寂靜慧,皆名修所成慧。 後三慧者,一、學慧;二、無學慧;三、非學非無學 慧。學慧云何?答:學作意相應,於法棟擇極 棟擇最極棟擇、解了等了近了遍了,機黠通 達審察聰叡,覺明慧行毘鉢舍那,是名學慧。 無學慧云何?答:無學作意相應,於法棟擇, 廣說乃至毘鉢舍那,是名無學慧。非學非無 學慧云何?答:有漏作意相應,於法棟擇,廣說 乃至毘鉢舍那,是名非學非無學慧。 三根者,一、未知當知根;二、已知根;三、具知根。 如《法蘊論》廣說其相。如世尊說: 「學者學諸根,恒隨正直道, 常委勤精進,守護於自心。 初慧根無間,生第二慧根, 若第三慧根,解脫位方有。 不動解脫位,諸有結永盡, 無漏根圓滿,樂止息諸根。 將入永寂滅,任持最後身, 降伏諸魔軍,證畢竟常樂。」 三眼者,一、肉眼;二、天眼;三、聖慧眼。肉眼云 何?答:雜骨肉血淨四大種所造眼界、眼處、眼 根,是名肉眼。天眼云何?答:不雜骨肉血極淨 四大種所造眼界、眼處、眼根,是名天眼。聖慧 眼云何?答:諸有學慧及無學慧并一切善非 學非無學慧,是名聖慧眼。如世尊說: 「肉眼最為劣,天眼名次上, 聖慧眼最勝,有三種差別。 諸世間善慧,能順趣決擇, 學無學正知,盡生老病死。 大覺天人中,名稱最高遠, 亦由慧速證,妙覺莊嚴身。」 三仗者,一、聞仗;二、離仗;三、慧仗。聞仗云何? 答:多聞、聞持、聞積集者,若所說法初中後善, 文義巧妙純一圓滿清白梵行,於如是法具 足多聞,憶持所聞言教純熟,專意觀察所聞 言教,於諸法義見善通達,是名為聞。因此 聞由此聞建立故,能斷不善法、能修諸善法, 此名為聞,亦名為仗,亦名聞仗,故名聞仗。離 仗云何?答:離欲惡不善法,有尋有伺離生喜 樂入初靜慮具足住,廣說乃至入第四靜慮 具足住,是名為離。因此離依此離由此離建 立故,能斷不善法、能修諸善法,此名為離,亦 名為仗,亦名離仗,故名離仗。慧仗云何?答:如 實了知此是苦聖諦、此是苦集聖諦、此是苦 滅聖諦、此是趣苦滅道聖諦,是名為慧。因此 慧依此慧由此慧建立故,能斷不善法、能修 諸善法,此名為慧,亦名為仗,亦名慧仗,故名 慧仗。如世尊說: 「聞仗最為劣,離仗名次上, 慧仗最為勝,精進力具足。 具念樂靜定,知世間生滅, 於一切解勝,至世邊彼岸。」 第五嗢柁南曰: 五三法有十,謂學修住定, 導淨默增上,無上明各三。 有三學、三修、三住、三定、三示導、三清淨、三寂 默、三增上、三無上、三明。 三學者,一、增上戒學;二、增上心學;三、增上慧 學。增上戒學云何?答:安住具戒、守護別解脫 律儀,軌則所行悉皆具足,於微小罪見大怖 畏,受學學處,是名增上戒學。增上心學云 何?答:離欲惡不善法,有尋有伺離生喜樂入 初靜慮具足住,廣說乃至入第四靜慮具足 住,是名增上心學。增上慧學云何?答:如實 了知此是苦聖諦、此是苦集聖諦、此是苦滅 聖諦、此是趣苦滅道聖諦,是名增上慧學。如 世尊說: 「苾芻具三學,樂修如理行, 增上戒心慧,恒相續現行。 具精進勢力,及明盛靜慮, 常守護諸根,勤行不放逸。 如晝夜亦然,如夜晝亦爾, 如前後亦爾,如後前亦然。 如下上亦然,如上下亦爾, 勝伏諸方所,由不放逸定。 說此為學迹,不放逸而住, 由能了能捨,故得心解脫。 世說為等覺,雄猛至行邊, 明行俱圓滿,恒住無忘失。 命根不相續,愛盡解脫故, 如燈火涅槃,究竟心解脫。」 三修者,一、修戒;二、修定;三、修慧。修戒云何? 答:於諸善戒親近數習,殷重無間勤修不捨, 是名修戒。修定云何?答:於諸善定親近數習, 殷重無間勤修不捨,是名修定。修慧云何?答: 於諸善慧親近數習,殷重無間勤修不捨,是 名修慧。如世尊說: 「善修戒定慧,至極究竟者, 已永盡諸有,無垢亦無憂。 於著得解脫,具利慧深定, 超眾魔境界,遍照如日輪。」
Việt dịch
QUYỂN 5 Phẩm 4: BA PHÁP, Phần 3 Ba thứ thọ nhận: Thọ nhận vui, thọ nhận khổ, thọ nhận chẳng khổ, chẳng vui. Hỏi: Thọ nhận vui là gì? Đáp: Tức là tiếp xúc thọ nhận các điều thuận vui nên khiến thân và tâm đều vui mà nhận đều xúc cảm. Đó là cảm xúc vui. Lại còn khi tu Sơ thiền, Nhị thiền và Tam thiền thì cũng có những cảm giác, cảm xúc vui của thân và tâm như thế. Nên gọi là thọ nhận vui. Hỏi: Thọ nhận khổ là gì? Đáp: Tức là tiếp xúc thọ nhận các điều thuận khổ nên khiến thân và tâm đều khổ mà nhận đều cảm xúc. Đó là cảm xúc khổ. Hỏi: Thọ nhận chẳng khổ chẳng vui là gì? Đáp: Tức là tiếp xúc thọ nhận các điều thuận với chẳng khổ chẳng vui khiến thân và tâm buông xả, không nhận đều, không phải không nhận đều cảm xúc. Như Thế Tôn nói lời kệ: Đủ niệm, định, chánh tri Chân đệ tử chư Phật Nên biết đúng các thọ Khiến mọi tham chẳng sinh. Đối các thọ và đạo Đều khiến thảy mất dần Bí-sô hết các thọ Là Niết-bàn vô ảnh. Ba thứ tánh khổ: Tức là tính chất khổ khổ, tính chất hoại khổ và tính chất hành khổ. Hỏi: Thế nào là tính chất khổ khổ? Đáp: Các hành ở cõi Dục do khổ chồng lên nhau nên phải khổ. ===== PAGE 71 ===== SỐ 1536 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA TẬP DỊ MÔN TÚC - Quyển 5 71 Hỏi: Thế nào là tính chất hoại khổ? Đáp: Các hành ở cõi Sắc do hoại khổ nên có khổ. Hỏi: Thế nào là tính chất hành khổ? Đáp: Các hành ở cõi Vô sắc do hành khổ nên có khổ. Lại còn các hành nào chẳng vừa ý là do khổ khổ cho nên có khổ. Còn các hành nào vừa ý mà bị hoại khổ cho nên có khổ. Còn các hành nào thuận với việc buông xả mà do hành khổ nên có khổ. Lại còn, nếu có cảm xúc khổ, nếu pháp đó tương ưng thích hợp, nếu pháp đó đều có, nếu từ nó sinh ra, nếu như những cái đó khiến mình không mến thích được quả dị thục..., thì đó là do khổ mà có khổ Nếu có các cảm xúc vui, nếu pháp đó tương ưng thích hợp, nếu pháp đó đều có, nếu từ nó sinh ra, nếu các thứ đó khiến không thể mến thích được quả dị thục, ấy là do hoại khổ nên có khổ. Nếu cảm xúc chẳng khổ chẳng vui, nếu pháp đó tương ưng thích hợp, nếu pháp đó đều có, nếu từ nó sinh ra, nếu các thứ đó chẳng phải đáng ưa chẳng phải không đáng ưa quả dị thục. Ấy là do hành khổ cho nên có khổ. Hỏi: Lại còn tính chất khổ khổ là thế nào? Đáp: Các thân xác nầy mà có đây là do khổ khổ mà khổ. Vì sao? Vì chính từ thân nầy mà có già, bệnh, chết và biết bao nhiêu thứ khổ. Hỏi: Còn tính chất hoại khổ là sao? Đáp: Như Thế Tôn đã nói như tình bè bạn thắm thiết, tình ruột thịt thân yêu và bao nhiêu cảnh vật, bao sự việc rất hợp ý vui lòng... Nếu khi gặp phải sự biến đổi hư hoại, hoặc gặp phải sự hủy báng chê bai, khinh chê miệt thị... Rồi thì phát sinh ra bao nhiêu sầu khổ đau buồn, bi thương nhục nhã. Chính lúc đó là do hoại khổ tạo ra khổ. Hỏi: Tính chất của hành khổ là sao? Đáp: Trừ tính chất khổ khổ và tính chất hoại khổ, tất cả các hành hữu lậu đều thuộc về hành khổ mà có khổ. Ba thứ kiêu ngạo: 1. Kiêu ngạo vì ta hơn. 2. Kiêu ngạo vì ta bằng họ. 3. Kiêu ngạo vì ta thua kém. Hỏi: Vì ta hơn mà kiêu ngạo là sao? Đáp: Như có người nghĩ: Kể ra về giống nòi, hình dạng, nghề nghiệp, sự khéo léo, tiền của, địa vị, tuổi thọ, sức khỏe..., của ta, dù nhìn chung hay riêng biệt, tất cả đều vượt hơn người ấy. Do đó mà khởi lên kiêu ngạo phách lối. Đã kiêu ngạo sẽ càng kiêu ngạo hơn mãi, lòng ===== PAGE 72 ===== 72 BỘ TỲ ĐÀM 1 luôn tự cao tự đại luôn vênh váo, cậy thế, miệt thị khinh thường tất cả. Đó là kiêu ngạo vì ta hơn. Hỏi: Kiêu ngạo vì ta bằng họ là sao? Đáp: Như có người nghĩ: Kể ra về giống nòi, hình dáng, nghề nghiệp, tài nghệ, tiền của, địa vị, tuổi thọ, thế lực, sức khỏe..., của ta, dù nhìn chung hay riêng biệt, tất cả đều ngang bằng với kẻ đó. Do một lý do riêng mà khởi lên kiêu ngạo, đã kiêu ngạo rồi thì sẽ càng phách lối hơn lên, lòng luôn tự cao tự đại, luôn vênh váo, cậy thế, miệt thị coi thường tất cả. Đó là kiêu ngạo vì ta bằng họ. Hỏi: Kiêu ngạo vì ta thua kém là sao? Đáp: Như có người nghĩ: Kể về giống nòi, hình dáng, nghề ng - hiệp, tài nghệ, tiền của, địa vị, tuổi thọ, sức khỏe, thế lực..., của ta, dù nhìn chung hay riêng biệt thì ta đều thua hẳn cả. Nhưng vì một lý do riêng mà khởi lên lòng kiêu ngạo, đã kiêu ngạo thì lại càng kiêu ngạo phách lối hơn lên, lòng luôn tự cao tự đại, luôn vênh váo cậy thế, miệt thị coi thường tất cả. Đó là kiêu ngạo vì ta kém thua. Bài kệ thứ tư nói (Ốt-đà-nam): Bốn: Ba pháp có mười Là: Lửa, phước, dục, lạc Và tuệ, căn, mắt, phục Sáu một, lửa tuệ hai. Có ba thứ lửa, ba phước nghiệp, ba dục sinh, ba lạc sinh, ba thứ tuệ, ba thứ căn, ba thứ mắt, ba thứ phục, lửa tuệ mỗi thứ có hai, còn sáu thứ khác mỗi thứ có một. Ba thứ lửa: Đó là lửa tham, lửa sân, lửa si. Hỏi: Lửa tham là sao? Đáp: Nghĩa là đối với sự tham lam trong các cảnh dục mà ham thích ham muốn tất cả rồi sinh ra giấu cất, giữ gìn, chấp chặt, yêu thích, mê mẩn lo lắng đam mê, tự cột trói nội tâm, ước muốn, mong cầu, ham thích. Là nơi chiêu tập các khổ, nó là loại tham lam, thứ sinh ra tham lam. Gọi chung là tham lam. Tham ái nầy, che chắn ngăn lắp mà phát sinh ra các thứ bứt rứt nóng nảy cho thân và tâm, hoặc cả thân tâm, nó thiêu đốt thân hoặc tâm hoặc cả thân tâm, nó não hại phá rối thân hoặc tâm hoặc cả thân tâm. Do bị tham ái nó cột trói ràng rịt nên suốt cả ngày đêm luôn luôn gặp bao nhiêu thứ buồn rầu phiền muộn chẳng vui thích, chẳng thỏa lòng với quả dị thục. Thế nên gọi là lửa tham. Hỏi: Lửa sân giận là sao? Đáp: Là cố ý muốn làm tổn hại loài hữu tình, lòng luôn ôm mối ===== PAGE 73 ===== SỐ 1536 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA TẬP DỊ MÔN TÚC - Quyển 5 73 tàn độc thích gây đau buồn cho mọi người. Đã sân giận, đang giận và sẽ giận dữ mãi. Thích gây ra tội ác tai họa, lại càng hừng hẩy tạo thêm. Lòng mãi giận dữ hung ác, nên lại càng trái khuấy dữ dằn gây tai họa cho mọi người. Đã gây tai họa, sẽ gây tai họa và hiện đang gây tai họa. Gọi chung là giận. Giận nầy che chắn ngăn lấp mà phát sinh ra các thứ bứt rứt nóng nảy cho thân hoặc tâm hoặc cả thân tâm, nó thiêu đốt não hại thân hoặc tâm hoặc cả thân tâm. Do vì bị sân giận cột trói ràng rịt nên suốt cả ngày đêm luôn luôn gặp bao thứ buồn rầu phiền muộn, chẳng vui thích, chẳng thỏa lòng với quả dị thục. Đó là lửa sân. Hỏi: Lửa si mê là thế nào? Đáp: Nghĩa là đối với phía trước hay phía sau, hoặc cả hai phía trước sau chẳng biết gì. Nói rộng ra là cho đến thuộc loại si mê, thứ sinh ra si mê, đều gọi chung là si. Ngu si nầy che chắn, ngăn lắp mà phát sinh ra các thứ bứt rứt nóng nảy cho thân hoặc tâm hoặc cả thân tâm, nó thiêu đốt, não hại quấy nhiễu cho thân hoặc tâm hay cả thân tâm. Lại bị sự ngu si trói cột ràng buộc nên suốt cả ngày đêm luôn luôn gặp bao thứ buồn rầu phiền muộn, chẳng vui thích, chẳng thỏa lòng với quả dị thục. Đó gọi là lửa si. Như Thế Tôn nói kệ: Có nhiều kẻ ngu si Lửa đốt tham sân si Đắm mê các cảnh dục Hại đời, ghét pháp Phật. Ba lửa độc thiêu đốt Nếu chẳng biết như thật Bèn tham đắm có thân Chẳng đến được tịch diệt. Tà quấy ngăn lối đi Đọa vào ba đường dữ Luân hồi, chịu khổ não Chẳng thoát khỏi lưới ma. Đệ tử bậc Chánh giác Suốt đêm ngày siêng năng Từ tuệ diệt tưởng xấu Cùng dập tắt ba lửa. Do đó vào Thánh đạo Hàng phục các quân ma Chứng được hai Niết-bàn Mát mẻ không lậu hoặc. ===== PAGE 74 ===== 74 BỘ TỲ ĐÀM 1 Có ba thứ lửa: Đó là lửa nên phụng sự, lửa nên ban thí cấp dưỡng, lửa nên cúng dường. Hỏi: Thế nào là lửa nên phụng sự? Đáp: Cha mẹ là những người đáng được thờ kính phụng sự, như Đức Thế Tôn đã nói với thầy Bà-la-môn có thân hình cao đẹp. Thế nào là lửa nên phụng sự? Nghĩa là, ở đời thì cha mẹ những kẻ đáng được hưởng thụ mọi sự cung phụng đầy đủ, vui vẻ của con mình. Và tùy lúc, tùy nơi mà cung phụng không lầm lỗi trái ý. Thế nào là người con dùng mọi thứ đầy đủ và vui vẻ tùy lúc tùy nơi mà cung phụng không trái ý là lửa nên phụng sự? Nghĩa là chàng trai trẻ dòng dõi ưu tú do sức của cần mẫn siêng năng, của đôi tay chân mạnh mẽ, của mồ hôi nước mắt và máu mà họp pháp tạo ra những của cải tiền bạc, các sự đầy đủ vui vẻ, tùy lúc tùy nơi mà phụng dưỡng thờ kính không lỗi lầm trái ý cha mẹ. Vì sao gọi là lửa đáng nên phụng sự? Tức do cha mẹ sinh ra, và nuôi lớn người trai trẻ ấy nay được thành đạt, thế nên chư Phật nói cha mẹ rất đáng được phụng sự thờ kính cung phụng. Hỏi: Thế nào là lửa nên ban thí cấp dưỡng? Đáp: Ấy là vợ con, nô tỳ kẻ giúp việc và bè bạn, phải được chủ nhà ban thí cấp dưỡng, như Thế Tôn đã nói với thầy Bà-la-môn có thân hình cao lớn. Thế nào là lửa ban thí cấp dưỡng? Tức là ở đời thì có vợ con nô tỳ kẻ giúp việc và bè bạn phải được gia chủ tùy lúc tùy nơi mà ban thí cung cấp mọi thứ đầy đủ và vui vẻ không lỗi lầm nghịch ý. Vì sao chủ nhà phải dùng các thứ đầy đủ và vui vẻ mà tùy lúc tùy nơi không lỗi lầm trái ý mà cung cấp ban thí lửa đang cung cấp ban thí? Nghĩa là chàng trai trẻ dòng dõi kia do sức của siêng năng với đôi tay chân mạnh mẽ và với mồ hôi nước mắt và cả máu để tạo ra của cải tiền bạc một cách hợp pháp mà cung cấp đầy đủ và vui vẻ, tùy lúc tùy nơi không hề lỗi lầm trái ý cho vợ con, nô tỳ kẻ giúp việc và cả bạn bè. Vì sao gọi là lửa cung cấp ban thí? Nghĩa là chàng trai trẻ dòng dõi kia khi ở nhà hãy đúng pháp mà phụng sự không lỗi lầm trái ý vợ con như dạy bảo chỉ vẻ cách làm việc, các việc nên làm, khiến cho không lỗi lầm thiếu hụt và hoàn thành nhanh chóng. Thế nên chư Phật nói là vợ con, nô tỳ kẻ giúp việc và bè bạn là lửa nên cung cấp ban thí. Hỏi: Thế nào là lửa đáng nên cúng dường? Đáp: Các bậc Sa-môn Bà-la-môn chân chánh đáng được các thí chủ cung kính cúng dường như Đức Thế Tôn đã nói với thầy Bà-la-môn có thân hình cao lớn. Vì sao gọi là lửa đáng nên cúng dường? Nghĩa là các bậc Sa-môn Bà-la-môn nếu đã lìa bỏ tham lam hoặc đã tu hành ===== PAGE 75 ===== SỐ 1536 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA TẬP DỊ MÔN TÚC - Quyển 5 75 điều phục thói tật tham lam, hoặc đã lìa bỏ sân giận hay tu hành điều phục thói tật sân giận, hoặc đã lìa bỏ si mê hay đang tu hành điều phục thói tật si mê. Các bậc Sa-môn Bà-la-môn như thế đáng thọ hưởng các vui vẻ đầy đủ của thí chủ tùy lúc tùy nơi mà cúng dường không trái lý. Vì sao thí chủ dùng các thứ đầy đủ vui vẻ để tùy lúc tùy nơi mà cúng dường đúng lý tức lửa đáng cúng dường? Ấy là vì chàng trai trẻ dòng dõi kia do sức luôn siêng năng, sức của đôi tay chân khỏe mạnh hay sức của mồ hôi nước mắt và máu để tạo ra các của cải tiền bạc một cách hợp pháp mà có đầy đủ các thứ vui tươi để tùy lúc tùy nơi mà cúng dường không nghịch lý lỗi lầm các bậc Sa-môn Bà-la-môn như đã nói trước đây. Vì sau gọi là lửa đáng nên cúng dường? Vì chàng trai trẻ dòng dõi ấy đáng nên cúng dường các bậc A-la-hán và những bậc hữu học, chính họ là ruộng phước chân chánh ở thế gian để các thí chủ ở đó mà gieo trồng cây phước đức, để chiêu cảm được quả dị thục giàu sang hạnh phúc ở đời nầy và đời khác cũng như quả giải thoát. Thế nên chư Phật nói các bậc Sa-môn chân chánh, Bà-la-môn chân chánh là lửa đáng cúng dường. Các loại lửa khác ở thế gian, chẳng đáng phụng sự, cung cấp ban thí và cúng dường, vì nó không thể giúp các loài hữu tình có được các quả báo cao quý. Thế nên Đức Thế Tôn nói kệ: Bậc trí giỏi đúng pháp Thờ cúng ba thứ lửa Sinh vui vẻ trên đời Chứng giải thoát hết khổ. Có ba sự phước nghiệp: Đó là sự phước nghiệp bố thí, sự phước nghiệp trì giới và sự phước nghiệp tu hành. Hỏi: Sự phước nghiệp bố thí: Thí là gì, phước là gì, nghiệp là gì, sự là gì mà gọi là sự phước nghiệp bố thí? Đáp: Nghĩa là thí chủ bố thí cho các bậc Sa-môn, Bà-la-môn, những kẻ nghèo khổ, tu khổ hạnh và kẻ ăn xin các thứ như: thức ăn, thuốc men, y phục, hoa cài đầu, các chất thơm để thoa xức, hoặc nhà cửa phòng ốc, giường nằm, ngọa cụ, đèn đuốc mọi thứ vật dụng..., đó là những vật bố thí. Lại do thân mà bố thí, nghĩa là hoặc bố thí thân, bố thí việc làm của thân nghiệp, hoặc bố thí mà mình buông xả. Do miệng mà bố thí, nghĩa là bố thí lời nói, bố thí ngữ nghiệp, hoặc bố thí vật mà mình buông xả. Do ý mà bố thí, nghĩa là bố thí tâm ý, bố thí ý nghiệp hoặc bố thí tâm buông xả. Đó gọi là bố thí các loại. ===== PAGE 76 ===== 76 BỘ TỲ ĐÀM 1 Phước là sao? Nghĩa là bố thí đều các hạnh của thân và lời nói đều có khuôn phép và đời sống thanh tịnh, gọi đó là phước. Còn nghiệp là sao? Nghĩa là bố thí đều là hạnh của các tư tưởng, suy nghĩ, đang suy nghĩ, đã suy nghĩ, các loại suy nghĩ tạo nên ý nghiệp. Đó là nghiệp. Còn sự, thì đó là người bố thí, kẻ nhận và vật bố thí, đó gọi là sự. Trong đây thì vật bố thí (loại thí) gọi là thí loại, cũng gọi là phước, là nghiệp, là sự. Còn phước ở đây thì gọi là phước, cũng gọi là nghiệp, là sự, là loại bố thí. Còn nghiệp thì gọi là nghiệp, cũng gọi là sự, là vật thí, là phước. Ở đây chỉ có sự thì gọi là sự mà thôi. Hỏi: Sự phước nghiệp trì giới: Giới loại là gì, phước là gì, nghiệp là gì, sự là gì mà gọi là: Sự phước nghiệp trì giới? Đáp: Các thứ giới tức là: Từ bỏ giết hại, từ bỏ trộm cướp, lìa dâm dục tà hạnh, lìa nói dối, lìa bỏ uống chất Tốt-la-mê-lệ-gia-mạt-đà, buông lung chốn rượu chè..., đó gọi là các thứ giới (giới loại). Phước, tức là trì giới thì đều là các hạnh của thân và miệng đều có khuôn phép, đời sống thanh tịnh. Đó là phước. Nghiệp, trì giới đều là hạnh của các sự suy nghĩ, hiện đang suy nghĩ, đã suy nghĩ, các loại suy nghĩ tạo nên ý nghiệp. Đó là nghiệp. Còn sự, tức là ngăn ngừa, giữ gìn, ngăn cấm hoặc từ bỏ giết hại thì đó là sự lìa bỏ giết hại. Nếu ngăn cấm hoặc lìa bỏ trộm cướp, thì đó là sự lìa bỏ trộm cướp. Còn nếu ngăn cấm hoặc lìa bỏ tà hạnh thì đó là sự lìa bỏ tà hạnh. Nếu ngăn cấm lìa bỏ nói dối thì đó là sự lìa bỏ nói dối. Nếu ngăn cấm lìa bỏ việc uống Tốt-la-mê-lệ-gia mạt-đà, phóng dật chốn rượu chè thì tức là sự lìa bỏ uống các thứ rượu. Đó gọi là sự. Ở đây giới loại thì gọi là giới loại, cũng gọi là phước, là nghiệp, là sự, là giới loại. Còn nghiệp ở đây cũng gọi là nghiệp, là phước, là sự, là giới loại. Và sự ở đây cũng gọi là sự, là giới loại, là phước, là nghiệp. Hỏi: phước nghiệp tu hành: Tu loại là gì, phước là gì, nghiệp là gì, sự là gì mà gọi là Sự phước nghiệp tu hành? Đáp: Các thứ tu hành tức là Từ, Bi, Hỷ, Xả bốn thứ tâm vô lượng. Đó gọi là tu loại. Phước là bốn thứ vô lượng đó đều là các hạnh của thân và miệng có khuôn phép và đời sống thanh tịnh, đó gọi là phước. Còn nghiệp, tức là thứ vô lượng đó đều là hạnh của các tư tưởng suy nghĩ, hiện đang suy nghĩ, đã suy nghĩ, các thứ suy nghĩ tạo nên ý nghiệp, đó gọi là nghiệp. Còn sự, nghĩa là các sự duyên đến để khởi lên bốn thứ vô lượng tâm, đó gọi là sự. Ở đây thì phước cũng gọi là phước, cũng gọi là nghiệp, là sự, là tu loại. Còn nghiệp gọi là nghiệp, cũng gọi là sự, là phước, là tu loại. Riêng sự đây chỉ gọi là sự mà thôi. Như Đức Thế Tôn ===== PAGE 77 ===== SỐ 1536 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA TẬP DỊ MÔN TÚC - Quyển 5 77 nói kệ: Bậc trí nương vào pháp Siêng học thí, giới, tu Khiến thế gian không khổ Nhận ba thứ quả vui. Ba thứ dục sinh: Có các loại chúng sinh (hữu tình) ham thích thọ nhận các dục cảnh đẹp đẽ hiện tiền, vì ở trong các dục cảnh hiện tiền, họ được giàu sang tự tại, gọi đó là người có toàn là người có một phần trời đó là dục sinh thứ nhất (cõi Dục). Có các loài hữu tình lại ưa thích tự mình hóa ra các dục cảnh đẹp đẽ. Vì ở trong các dục cảnh đẹp đẽ tự hóa đó, họ trở nên giàu sang tự tại, gọi đó là cõi trời Lạc-biến-hóa, đó là dục sinh thứ hai. Có các loài hữu tình lại ưa thích các biến hóa dục cảnh đẹp đẽ của người khác, nó đối với các dục cảnh đẹp đẽ vì trong đó họ trở nên giàu sang tự tại, nên gọi là cõi trời Tha-hóa-tự-tại, đó là dục sinh thứ ba. Các loài hữu tình nói ở đây, là các hữu tình theo nghĩa đế nghĩa thắng, thì không nắm bắt được, chẳng thể gần được, nó không có, cũng chẳng hiện hữu, mà chỉ là các uẩn, giới và xứ. Do các ý tưởng nghĩ ra nên giả đặt gọi đó là hữu tình là Na-la ý, sinh bé thơ, mạng là sống, nuôi dưỡng là sĩ phu, Bổ-đặc-già-la..., do đó nên nói có các loại hữu tình ưa thích hưởng thụ cảnh vui hiện tiền. Còn các dục cảnh đẹp đẽ, đó tức là những loài hữu tình luôn thích thọ hưởng những thứ đã được cất giấu, giữ gìn, chất chứa, tụ tập, gởi gấm, đặt để... và tùy theo gốc của nó mà sinh ra các dục cảnh hiện tiền. Trong các dục cảnh đẹp đẽ hiện tiền họ giàu sang tự tại, tức là các loài hữu tình đó đối với các thứ thọ hưởng được cất chứa giữ gìn chứa nhóm gởi gắm, đặt để, tùy gốc của nó sinh ra các dục cảnh hiện tiền, thì có quyền được tùy ý thọ hưởng. Nói toàn là người là chỉ cho tất cả người. Một phần trời là chỉ bốn cõi trời dưới của cõi Dục. Số một, tức là tùy theo sự tính đếm dần dần liên tục theo thứ tự thì đó là chỗ ở số một. Dục sinh, là cõi Dục mà sinh ra. Lại còn, có các loài hữu tình, tức là nói các loài hữu tình đó nếu theo nghĩa đế, nghĩa thắng thì không thể nắm bắt được, nói rộng như trước. Ưa thích hưởng thụ các dục cảnh đẹp đẽ tự mình biến hóa đó, tức là cõi trời Lạc-biến-hóa có thể biến hóa tạo ra các nghiệp loại như thế ===== PAGE 78 ===== 78 BỘ TỲ ĐÀM 1 và chính do các nghiệp đó mà tùy ý thích có thể biến hóa ra các thứ vật dụng kể cả nam nữ để mà vui chơi. Hoặc thiên nữ thì hóa làm thiên nam để tự đùa vui, hoặc thiên nam cũng hóa làm thiên nữ để tự vui đùa. Đối với các dục cảnh đẹp đẽ do tự biến hóa ra họ được sung sướng tự tại, nghĩa là cõi trời Lạc-biến-hóa tạo tác tăng thêm các nghiệp loại như thế là do các nghiệp ấy họ tùy thích biến hóa ra nam nữ các thứ rồi có quyền được tự do tùy ý hưởng thụ. Nói “Cõi trời Lạc-biến-hóa” là chỉ cõi trời biến hóa ra mọi thứ vui. “Là bậc thứ hai” (Dục sinh thứ hai) tức là tùy theo sự tính đếm dần dần liên tục theo thứ tự, thì đây là bậc thứ hai. “Dục sinh” đây là cõi Dục mà sinh ra. Lại còn có các loài hữu tình, gọi các loài hữu tình nếu theo nghĩa đế nghĩa thắng thì không thể nắm bắt được, nói rộng như trước. Ưa thích thọ hưởng các dục cảnh do người khác biến hóa ra thì nghĩa là cõi trời Tha-hóa-tự-tại tạo ra tăng thêm các nghiệp loại như thế và do các nghiệp đó cùng với các trời Tha-hóa-tự-tại, tuy là đồng một loại thân ở chung một cõi, đồng một cuộc sống, đồng một đường hướng tiến tới, nhưng có cao thấp hơn kém khác nhau. Các người ở cõi trời thấp kém thì phải biến hóa đủ mọi thứ; sắc, thanh, hương vị, xúc các dục cảnh đẹp đẽ để cho các người ở cõi trời cao hơn hưởng thụ sử dụng. Đối với các dục cảnh đẹp đẽ do người khác biến hóa ra thì họ trở nên giàu sang tự tại, có nghĩa là cõi trời Tha-hóa-tự-tại phải tạo ra tăng thêm các nghiệp lợi như thế và do các nghiệp đó mà tùy sở thích khiến các người ở các cõi trời thấp kém phải tạo tác, biến hóa ra các thứ sắc, thanh, hương vị, xúc, các dục cảnh đẹp đẽ để người ở các cõi trời cao hơn có quyền được tự do tùy ý thọ hưởng sử dụng cảnh ấy. Thí dụ như trời Phạm thiên tuy là đồng một loại đồng ở một cõi, đồng một đời sống, đồng một nơi tiến tới... Nhưng lại có hơn kém cao thấp khác nhau. Như cõi trời Phạm chúng thì thấp kém, còn cõi trời Phạm phụ thì cao hơn. Cõi trời Tha-hóa-tự-tại thiên cũng vậy, tạo tác tăng thêm các nghiệp loại như thế, và họ do nghiệp đó... như trước đã nói rộng. Gọi Tha-hóa- tự-tại thiên, là chỉ rõ tất cả Tha-hóa-tự-tại thiên vậy. Còn “là bậc thứ ba” (Đệ tam dục sinh), tức là tùy theo sự tính đếm dần dần liên tục theo thứ tự thì nó thuộc bậc thứ ba. Dục sinh, tức là ở cõi Dục mà sinh ra. Ba thứ lạc sinh: 1. Có các loài hữu tình ly sinh hỷ lạc, nên khắp thân họ đều được nhuần thắm, đều được vui thích, đều được đầy đủ. Khi thấm nhuần đến đầy đủ đã xong thì được trụ vào an lạc mãi. Đó là cõi trời Phạm chúng, ===== PAGE 79 ===== SỐ 1536 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA TẬP DỊ MÔN TÚC - Quyển 5 79 là lạc sinh số một. 2. Có các loài hữu tình từ định sinh hỷ lạc thì thân họ nhuần thắm khắp các vui đó đều được vui thích, đều được đầy đủ. Khi thấm nhuần đến đầy đủ đã xong thì được trụ vào an lạc mãi. Đó là cõi trời Cực quang tịnh, là lạc sinh thứ hai. 3. Có các loài hữu tình đã lìa tất cả mọi sự vui mừng ham thích nên khắp thân đều được nhuần thắm, đều được vui thích, đều được đầy đủ. Khi thấm nhuần đến đầy đủ đã xong thì được trụ vào an lạc mãi. Đó là cõi Biến tịnh, là lạc sinh thứ ba. Trong đây nói các loài hữu tình, nghĩa là các loài hữu tình theo nghĩa đế nghĩa thắng thì chẳng thể nắm bắt được, chẳng thể gần được, không phải có, cũng không phải hiện hữu, mà chỉ là các uẩn, giới và xứ. Nhưng do tư tưởng nghĩ ra mà giả đặt tên gọi là hữu tình, là Na-la ý sinh bé thơ, mạng là sống, nuôi dưỡng là sĩ phu, Bổ-đặc-già-la. Do đó cho nên nói các loài hữu tình. Tức như là thân, thì thân gọi là thân, thân nghiệp cũng gọi là thân, thân căn cũng gọi là thân, năm căn có sắc cũng gọi là thân, bốn đại hợp nhau cũng gọi là thân. Theo nghĩa trong đây, là thân do bốn đại hợp nhau, cho nên nói tức như là thân. Ly sinh hỷ lạc: Tức là từ bậc sơ thiền, tức là đã có được cái vui bình nhiên (bình đẳng tự nhiên) thế nên gọi là ly sinh hỷ lạc, nên khắp thân đều được thấm nhuần vui đó. Vui thích và đầy đủ, là ở cõi trời Phạm chúng đối với ly sinh hỷ lạc kia, tùy ý muốn mà được, không chút khó khăn cực khổ chi. Khi có ly sinh hỷ lạc đó rồi thì muốn khởi là khởi, muốn sinh là sinh các sự tụ tập xuất hiện, nên có thể khiến cho thân do bốn đại hợp thành đó khắp chỗ của thân đều được nhuần thắm, đều vui thích, đều đầy đủ. Khi đã nhuần thắm đến đầy đủ rồi thì sẽ được trụ vào an lạc. Thân và tâm không khổ não tức là trụ vào an lạc. Như trong kinh Phân Biệt Sinh Ký, Thế Tôn có nói: “Các thầy Bí- sô nên biết, như người tu thiền định thì từ cõi nầy chết đi sẽ được sinh lên cõi trời Phạm chúng mà nhiều lần được ly sinh hỷ lạc”. Trước đây khi trụ họ vào Sơ thiền thì cũng đã được nhiều lần được ly sinh hỷ lạc. Ly sinh hỷ lạc đã nhận được trước hay sau thì không có gì lạ lùng hay sai khác nhau cả. Nếu như y vào thiền định, nghĩa là trước đây có ở trong bậc Sơ thiền, còn như có luyện tập tu hành, có làm rất nhiều việc thì sau nầy sẽ sinh lên cõi trời Phạm chúng. Cả hai thứ ly sinh hỷ lạc đó, phẩm loại chúng giống nhau. Trời Phạm chúng cũng chỉ có bậc Sơ thiền. Còn trời Phạm chúng là số một, là theo sự tính đếm dần dần liên tục theo thứ ===== PAGE 80 ===== 80 BỘ TỲ ĐÀM 1 tự thì nó ở hàng thứ nhất. Lạc sinh, nghĩa là khi ở chỗ nầy sinh ra mà lớn lên, hưởng được nhiều vui vẻ an ổn, lìa sự khổ vui, chỉ ưa thích hưởng được các sự vui mà thôi cho nên gọi là lạc sinh (đời sống vui). Lại còn nói có các loài hữu tình, tức là theo nghĩa đế nghĩa thắng thì loài hữu tình là chẳng thể nắm bắt được như trước đã nói rộng. “Tức như thị thân” là thân gọi là thân, cho đến nói rộng. Còn “Thiền định sinh hỷ lạc” nghĩa là khi nhập nhị thiền thì được vui bình đẳng tự nhiên, các thọ nhận đều thâu giữ. Thế nên nói thiền định sinh vui mừng. Khắp thân đều được thấm nhuần, đều vui thích, đều đầy đủ, tức là cõi trời Cực quang tịnh. Đối với định sinh hỷ lạc nầy tùy ý muốn mà có được, không khó khăn nhọc nhằn chi. Định nầy sinh ra vui mừng đó rồi thì muốn khởi là khởi, muốn sinh là sinh các sự tụ tập xuất hiện, nên có thể khiến cho thân do bốn đại hợp thành đó, khắp thân đều được thấm nhuần, đều vui thích, đều đầy đủ. Khi đã thấm nhuần cho đến đầy đủ rồi thì sẽ được trụ vào an lạc. Nghĩa là ngay lúc đó do định mà sinh vui mừng, thân tâm không khổ não tức là trụ vào an lạc. Như trong kinh Phân Biệt Sinh Ký, Thế Tôn có nói: “Các thầy Bí-sô nên biết, như kẻ tu thiền định thì từ cõi nầy chết đi sẽ được sinh lên cõi trời Cực quang tịnh, nhiều lần được hưởng định sinh vui mừng”. Trước đây khi trụ vào Nhị thiền, thì họ cũng nhiều lần được định sinh niềm hoan lạc. Định sinh niềm hoan lạc đã nhận được trước hay sau, không có gì lạ lùng hay sai khác nhau. Y vào thiền định nên gọi trước đây có ở trong bậc Nhị thiền, còn như có luyện tập tu hành, có làm rất nhiều việc thì sau nầy sẽ sinh lên cõi Trời Cực quang tịnh. Cả hai thứ hưởng được định sinh hoan lạc đó, phẩm loại chúng giống nhau. Cực quang tịnh thiên là cũng chỉ cho bậc Nhị thiền. Còn nói cõi Trời Cực quang tịnh là bậc thứ hai ấy, là tùy theo sự tính đếm dần dần liên tục theo thứ tự thì nó ở hàng thứ hai. Lạc sinh (đời sống vui) nghĩa là khi ở chỗ nầy sinh ra và lớn lên thì hưởng được nhiều vui vẻ an ổn, lìa sự khổ vui, chỉ ưa thích hưởng được các sự vui mà thôi, nên gọi là lạc sinh (đời sống vui). Lại còn nói các loài hữu tình, nếu theo nghĩa đế nghĩa thắng thì không thể nắm bắt được họ như trước đã nói rộng. Còn “Tức như thị thân” là thân gọi là thân, cho đến như rộng nói. Còn ly sinh hỷ lạc là khi nhập Tam thiền thì được vui bình đẳng tự nhiên, các thọ nhận đều nhiếp giữ. Thế nên gọi là ly sinh hỷ lạc. Còn khắp thân đều được thấm nhuần, đều vui thích, đều đầy đủ, đó là ===== PAGE 81 ===== SỐ 1536 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA TẬP DỊ MÔN TÚC - Quyển 5 81 cõi trời Biến tịnh. Đối với ly sinh hỷ lạc nầy tùy ý muốn mà có, không khó khăn nhọc nhằn chi, tức là vui lìa hoan lạc nầy muốn khởi thì khởi, muốn sinh là sinh, các sự tụ tập xuất hiện, nên có thể khiến cho thân do bốn đại hợp thành, khắp thân đều được thấm nhuần, đều vui thích, đều đầy đủ. Khi thấm nhuần cho đến đầy đủ đã xong thì sẽ được trụ vào an lạc, là ngay lúc đó do ly sinh hỷ lạc, thân tâm không còn khổ não tức là trụ vào an lạc. Như trong kinh Phân Biệt Sinh Ký, Thế Tôn có nói: “Các thầy Bí- sô nên biết! Như người tu thiền định, từ cõi nầy chết rồi sẽ sinh lên cõi trời Biến tịnh nhiều lần được hưởng vui ly sinh hỷ lạc”. Trước đây khi trụ vào Tam thiền, thì họ cũng đã nhiều lần hưởng được ly sinh hỷ lạc. Vui ly sinh hỷ lạc đã nhận được trước hay sau thì không có gì lạ lùng hay sai khác nhau. Nếu như y vào thiền định, nghĩa là nên gọi trước đây có ở trong bậc Tam thiền, còn như có luyện tập tu hành, có làm rất nhiều việc thì sau nầy sẽ sinh lên cõi trời Biến tịnh. Cả hai thứ ly sinh hỷ lạc, phẩm loại đều giống nhau. Gọi Biến tịnh là cũng chỉ cho bậc Tam thiền. Còn nói Biến tịnh là bậc thứ hai, thì đó là theo sự tính đếm dần dần liên tục theo thứ tự, thì nó ở hàng thứ ba Lạc sinh là khi ở chỗ nầy sinh và lớn lên thì hưởng được nhiều vui vẻ an ổn, lìa sự khổ vui, chỉ ưa thích hướng được các sự vui mà thôi, nên gọi là lạc sinh (đời sống vui). - Ba thứ tuệ đầu: Đó là tuệ do nghe mà có, tuệ do suy tư mà có, tuệ do tu mà có. Hỏi: Thế nào là tuệ do nghe mà có? Đáp: Nhưng vì nghe, nương vào nghe, do nghe mà lập nên. Cho nên ở đó có khả năng thấu triệt hiểu biết đúng đắn tự tại nhất. Việc đó như thế nào? Ví như có vị Bí-sô hoặc thọ trì các pháp như Tố-đát-lãm, Tỳ-nại-da hay A-tỳ-đạt-ma, hoặc nghe bậc thân giáo sư dạy bảo, hay thầy luật sư, thầy mô phạm nói, hoặc các lời giảng xoay vần truyền trao nhau mà nói, hoặc nghe theo lý nhất như mà nói. Đó gọi là nghe. Nhân nghe đó, dựa vào nghe đó, do nghe đó mà lập nên. Do đó đối với mọi điều đều thấu triệt hiểu biết đúng đắn tự tại, nên gọi là tuệ do nghe mà có. Hỏi: Thế nào là tuệ do suy tư mà có? Đáp: Nhân suy nghĩ, dựa vào suy nghĩ, do suy nghĩ mà lập ra, nên nó có khả năng thấu triệt hiểu biết đúng đắn tự tại nhất. Việc đó như thế nào? Nghĩa là có người đúng theo lý nhất như mà suy tư, mà biên chép, suy đoán, tính toán, ấn định, hoặc suy nghĩ về nghiệp của các việc đã ===== PAGE 82 ===== 82 BỘ TỲ ĐÀM 1 làm..., đó gọi là suy nghĩ. Nhân suy tư đó, nương vào vào suy tư đó, do suy tư đó mà lập ra, nên có khả năng thấu triệt hiểu biết đúng đắn tự tại mọi vấn đề, nên gọi là tuệ do suy tư mà có. Hỏi: Thế nào là tuệ do tu mà có? Đáp: Nhân tu, nương vào tu, do tu mà lập ra nên có khả năng thấu triệt hiểu biết đúng đắn tự tại nhất. Việc đó như thế nào? Nghĩa là như theo phương tiện khéo léo hiệu quả nhất mà siêng năng tu tập các đạo, lìa mọi lỗi lầm ô nhiễm. Do sự tu hành lìa nhiễm, mà từ bỏ được ái dục và các pháp xấu ác, chẳng thiện, lại có suy tìm (tầm) và quán xét kỹ lưỡng (tứ) lìa các động cơ sinh ra các niềm hoan lạc mà trụ vào Sơ thiền một cách hoàn hảo đầy đủ. Kể rộng ra cho đến việc trụ vào Tứ thiền một cách hoàn toàn đầy đủ..., thì đó gọi là tu. Nhân tu đó, nương vào tu đó, do tu đó mà lập ra, nên đều thấu triệt hiểu biết đúng đắn tự tại mọi chỗ. Nên gọi là tuệ do tu mà có vậy. Có người nói: Đây cũng gọi là tuệ do tư duy suy tư mà có chưa đúng: Vì sao? Vì chỉ dựa vào pháp đặc biệt (Pháp bất cộng) của pháp Phật mà tu hành thì mới gọi được là do tu mà thành được tuệ. Nay ở đây có nghĩa là dựa vào các điều đã kể mà khởi lên cái tuệ tịch tĩnh, thì đều gọi là tuệ do tu mà có. - Ba thứ tuệ sau: Đó là tuệ của hàng hữu học, tuệ của hàng vô học và tuệ của hàng chẳng phải hữu học, chẳng phải vô học. Hỏi: Thế nào là tuệ của hàng hữu học? Đáp: Học là tác ý, tương ưng, là với phép chọn lựa thì phải chọn lựa thật kỹ lưỡng, vô cùng kỹ lưỡng để hiểu rõ, hiểu tất cả, hiểu gần, hiểu khắp hết. Và thấu suốt các điều quan yếu, phán xét định lượng kỹ lưỡng sáng suốt. Dùng hoạt động của tuệ hiểu biết thông suốt Tỳ-bát- xá-na. Đó gọi là tuệ của hàng hữu học. Hỏi: Thế nào là tuệ của hàng vô học? Đáp: Với hàng vô học mà tác ý, tương ưng, là đối với pháp chọn lựa kể dài đến Tỳ-bát-xá-na, thì đó gọi là tuệ của hàng vô học. Hỏi: Thế nào là tuệ của hàng phi học, phi vô học? Đáp: Nghĩa là với hữu lậu mà tác ý tương ưng. Nghĩa là đối với pháp chọn lựa kể dài đến Tỳ-bát-xá-na, thì đó gọi là tuệ của hàng phi học, phi vô học. - Ba thứ căn: Đó là căn chưa biết sẽ biết, căn đã biết và căn biết đầy đủ. Dựa vào pháp uẩn mà luận sâu xa rộng về các tướng của chúng, như Đức Thế Tôn nói kệ: ===== PAGE 83 ===== SỐ 1536 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA TẬP DỊ MÔN TÚC - Quyển 5 83 Học là học các căn Luôn theo đạo chính trực Thường siêng năng tinh tấn Giữ gìn kỹ tâm mình. Tuệ căn đầu không dứt Sinh tuệ căn thứ hai Còn tuệ căn thứ ba Giải thoát rồi mới có. Ngôi giải thoát chẳng động Các kiết sử dứt hết Căn vô lậu tròn đầy Ưa ngăn trừ các căn. Trụ sâu vào tịch diệt Nhận giữ thân sau cùng Hàng phục chúng quân ma Chứng thường lạc rốt ráo. - Ba thứ nhãn: Đó là nhục nhãn (mắt trần), thiên nhãn, Thánh tuệ nhãn. Hỏi: Nhục nhãn (mắt trần) là sao? Đáp: Đó là do xương thịt, máu sạch của bốn đại tạo ra, gồm có nhãn giới, nhãn xứ và nhãn căn, nên gọi là nhục nhãn. Hỏi: Thiên nhãn (mắt trời) là sao? Đáp: Chẳng do các thứ xương thịt màu tạp nhạp, mà phải thật sạch của bốn đại tạo nên, gồm có: nhãn giới, nhãn xứ và nhãn căn, nên gọi là thiên nhãn. Hỏi: Thánh tuệ nhãn là sao? Đáp: Tức là các thứ tuệ hữu học, tuệ vô học, cùng tất cả các thứ tuệ phi học, phi vô học. Đó gọi là Thánh tuệ nhãn. Thế Tôn có nói kệ: Nhục nhãn là kém nhất Thiên nhãn có khá hơn Thánh tuệ nhãn quý nhất Ba thứ đó khác nhau Tuệ thiện ở thế gian Có khả năng lựa chọn Học, không học, biết đúng Hết sinh, già, bệnh chết Đại giác cõi trời người ===== PAGE 84 ===== 84 BỘ TỲ ĐÀM 1 Danh xưng rất cao xa Đều do tuệ chứng nhanh Diệu giác trang nghiêm thân. - Ba thứ nương nhờ: Gồm có: Nương nhờ nghe, nương nhờ lìa bỏ, nương nhờ tuệ. Hỏi: Nương nhờ nghe là sao? Đáp: Là nghe học nhiều, nhớ chắc, chứa nhóm các điều nghe thấy. Các pháp thiện được nói ra, đủ các phần trước giữa sau với lời lẽ nghĩa lý cao siêu khéo léo, thuần nhất, đầy đủ, phạm hạnh trong sạch..., với các pháp như thế thì nên lắng nghe thật kỹ lưỡng đầy đủ rồi ghi nhớ thật chính xác đầy đủ rõ ràng các lời giảng dạy đó và chuyên tâm suy xét phán đoán tìm hiểu cặn kẻ để thấu suốt triệt để các nghĩa lý cao sâu. Thế nên gọi là nghe. Nhân nghe đó, nương cái nghe đó, do xây dựng nghe như thế, cho nên có thể đoạn trừ tất cả các pháp xấu xa bất thiện mà khéo tu các pháp thiện. Đó gọi là nghe, cũng gọi là nương nhờ, cũng gọi là nương nhờ sự nghe học. Đó gọi là nương nhờ nghe. Hỏi: Nương nhờ sự lìa bỏ là sao? Đáp: Tức là lìa bỏ ái dục, các điều xấu xa bất thiện, có tìm tòi suy xét (tầm) có quán xét (tứ) lìa bỏ cái gốc sinh ra niềm vui hoan lạc mà trụ vào sơ thiền một cách hoàn mãn (đầy đủ) rộng kể cho đến đệ tứ thiền..., đó gọi là sự lìa bỏ. Nhân lìa bỏ đó, nương vào sự lìa bỏ đó, do xây dựng sự lìa bỏ như thế, nên có thể đoạn trừ được các pháp chẳng thiện và giỏi tu các pháp thiện. Đó gọi là sự lìa bỏ, cũng gọi là nương nhờ, sự nương nhờ lìa bỏ, cho nên gọi là nương nhờ sự lìa bỏ Hỏi: Nương nhờ tuệ là sao? Đáp: tức là hiểu biết như thật đây là khổ thánh đế, đây là Tập thánh đế, đây là sự diệt khổ thánh đế, đây là con đường đến đạo diệt khổ thánh đế. Đó gọi là tuệ. Nhân tuệ đó, y vào tuệ đó và xây dựng tuệ như thế, cho nên có thể đoạn trừ các pháp chẳng thiện và khéo tu các pháp thiện. Đó gọi là tuệ, cũng gọi là nương nhờ, hay nương nhờ vào tuệ. Do đó gọi là nương nhờ tuệ, như Đức Thế Tôn nói kệ: Nương nghe là kém nhất Nương lìa thì khá hơn Nương tuệ là tối thắng Sức tinh tấn đầy đủ. Luôn nhập định lạc tịnh Biết thế gian sinh diệt Giải thoát với tất cả ===== PAGE 85 ===== SỐ 1536 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA TẬP DỊ MÔN TÚC - Quyển 5 85 Tất sang đến bờ kia. Bài tụng thứ năm: Năm: Ba pháp có mười Là học, tu, trụ, định Đạo, tịnh, mặc, tăng thượng Vô thượng và ba minh. Gồm có: ba thứ học, ba thứ tu, ba thứ trụ, ba thứ định, ba thứ thị đạo, ba thứ thanh tịnh, ba thứ tịch mặc, ba thứ vô thượng và ba thứ minh. - Ba thứ học: Gồm có giới học tăng thượng, tâm học tăng thượng, tuệ học tăng thượng. Hỏi: Giới học tăng thượng là sao? Đáp: Tức là an trụ vào giới luật đầy đủ, giữ gìn các luật nghi giải thoát đặc biệt. Các pháp tắc luật lệ ra làm tất cả đều đầy đủ đúng đắn cho nên dù một lỗi lầm rất nhỏ mà coi như một đại sự lo lắng mãi khôn nguôi. Chỗ nào học được đều luôn đến cầu học. Đó gọi là giới học tăng thượng. Hỏi: Tâm học tăng thượng là sao? Đáp: Tức là lìa các ái dục, các pháp xấu xa chẳng thiện, luôn luôn tìm tòi (tầm) và suy xét (tứ) để lìa cái gốc sinh ra niềm hoan lạc mà nhập vào định sơ thiền một cách hoàn mãn trọn vẹn. Rộng kể cho đến nhập trụ vẹn toàn vào cả đệ Tứ thiền. Đó gọi là tâm học tăng thượng. Hỏi: Tuệ học tăng thượng là sao? Đáp: Tức là đúng như thật mà hiểu biết đây là khổ thánh đế, đây là Thánh đế chiêu tập khổ. Đây là Thánh đế sự diệt khổ, đây là Thánh đế đạo (con đường) dẫn đến sự diệt khổ. Đó gọi là tuệ học thêm cao (tăng thượng) Thế Tôn đã nói kệ: Bí-sô đủ ba học Ưa tu hành đúng lý Giới - Tâm - Tuệ thêm lên Luôn liên tục hiện hành. Đầy đủ sức tinh tấn Và sáng đầy thiền định Luôn gìn giữ các căn Siêng tu, chẳng buông lung. Ngày sao đêm cũng vậy Đêm vậy ngày cũng thế Trước sao sau cũng vậy ===== PAGE 86 ===== 86 BỘ TỲ ĐÀM 1 Sau sao trước cũng thế. Dưới trên như thế nào Trên dưới cũng như vậy Nương nhờ mọi chỗ tốt Do định chẳng phóng dật. Đây nói là học đạo Chẳng phóng túng, mà trụ Do hay hiểu, giỏi xả Nên được tâm giải thoát. Đời bảo là bậc giác Dũng mãnh đến bờ giác Hạnh sáng đều tròn đầy Luôn trụ chỗ không quên. Mạng căn không nối tiếp Ái dứt nên giải thoát Như đèn lửa Niết-bàn Tâm giải thoát rốt ráo. - Ba thứ tu: Đó là tu giới, tu định và tu tuệ. Hỏi: Tu giới là sao? Đáp: Nghĩa là đối với các giới luật cao quý nên gần gũi rèn tập thật nhiều, liên tục ân cần quý trọng siêng năng tu hành chẳng ngơi nghỉ. Đó gọi là tu giới. Hỏi: Tu định là sao? Đáp: Tức là đối với các pháp thiền định cao quý nên gần gũi rèn tập thật nhiều liên tục ân cần quý trọng và siêng năng tu hành không ngơi nghỉ. Đó gọi là tu định. Hỏi: Tu tuệ là sao? Đáp: Tức là đối với các trí tuệ cao quý nên gần gũi rèn tập thật nhiều, liên tục ân cần quý trọng và siêng năng tu hành không ngơi nghỉ. Đó gọi là tu tuệ. Như Đức Thế Tôn nói kệ: Khéo tu giới - định - tuệ Đến rốt ráo tận cùng Đã dứt hẳn các hữu Không lỗi cũng chẳng lo. Thoát khỏi các chấp trước Đủ định lợi tuệ sâu Vượt khỏi cảnh giới ma Như mặt trời chiếu khắp. ===== PAGE 87 ===== SỐ 1536 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA TẬP DỊ MÔN TÚC - Quyển 6 87 LUẬN A TỲ ĐẠT MA TẬP DỊ MÔN TÚC