Hành đạo tri kiến thanh tịnh
Hành đạo tri kiến thanh tịnh (Pāli: paṭipadāñāṇadassana-visuddhi) thuộc hệ thanh tịnh; toàn hợp từ xác định loại thanh tịnh cụ thể.
Khác với Từ điển dùng để tra nhanh, mỗi mục ở đây là một bài giải thích đầy đủ: định nghĩa, bản chất/chức năng, phân biệt, ví dụ, vị trí trong hệ thống và liên hệ các bộ Vi Diệu Pháp.
Hành đạo tri kiến thanh tịnh (Pāli: paṭipadāñāṇadassana-visuddhi) thuộc hệ thanh tịnh; toàn hợp từ xác định loại thanh tịnh cụ thể.
Tri kiến thanh tịnh (Pāli: ñāṇadassana-visuddhi) thuộc hệ thanh tịnh; toàn hợp từ xác định loại thanh tịnh cụ thể.
Tính thập sắc (Pāli: bhāva-dasaka) — Bhāva-dasaka là tính thập sắc, sắc tụ nghiệp sinh gồm tám sắc bất ly, mạng quyền và sắc tính.
Sắc tế (Pāli: sukhumarūpa) được dùng theo nghĩa kỹ thuật: nhóm pháp vật chất, không biết đối tượng, được phân tích khác với danh pháp.
Sắc thô (Pāli: oḷārikarūpa) được dùng theo nghĩa kỹ thuật: nhóm pháp vật chất, không biết đối tượng, được phân tích khác với danh pháp.
Sắc nội (Pāli: ajjhattikarūpa) được dùng theo nghĩa kỹ thuật: nhóm pháp vật chất, không biết đối tượng, được phân tích khác với danh pháp.
Sắc ngoại (Pāli: bāhirarūpa) được dùng theo nghĩa kỹ thuật: nhóm pháp vật chất, không biết đối tượng, được phân tích khác với danh pháp.
Sắc thành tựu (Pāli: nipphannarūpa) được dùng theo nghĩa kỹ thuật: nhóm pháp vật chất, không biết đối tượng, được phân tích khác với danh pháp.
Sắc phi thành tựu (Pāli: anipphannarūpa) được dùng theo nghĩa kỹ thuật: nhóm pháp vật chất, không biết đối tượng, được phân tích khác với danh pháp.
Tâm đồng sở duyên (Pāli: tadārammaṇa-citta) được dùng theo nghĩa kỹ thuật: sự biết/cognizing một đối tượng tại một sát-na; được phân loại theo cảnh giới, nhân, thọ, trí và chức năng.
Tâm tử (Pāli: cuti-citta) được dùng theo nghĩa kỹ thuật: sát-na tâm cuối của một đời sống trong mô hình tiến trình tâm Theravāda.
Tâm hữu phần (Pāli: bhavaṅga-citta) được dùng theo nghĩa kỹ thuật: dòng tâm duy trì tính liên tục của đời sống giữa các tiến trình nhận thức theo mô hình Abhidhamma hậu kỳ.
Tâm đáo đại (Pāli: mahaggata-citta) được dùng theo nghĩa kỹ thuật: sự biết/cognizing một đối tượng tại một sát-na; được phân loại theo cảnh giới, nhân, thọ, trí và chức năng.
Tâm hữu hạn (Pāli: paritta-citta) được dùng theo nghĩa kỹ thuật: sự biết/cognizing một đối tượng tại một sát-na; được phân loại theo cảnh giới, nhân, thọ, trí và chức năng.
Tương ưng trí (Pāli: ñāṇasampayutta) thuộc họ kỹ thuật sampayutta; toàn hợp từ xác định nghĩa riêng.
Bất tương ưng trí (Pāli: ñāṇavippayutta) thuộc họ kỹ thuật vippayutta; toàn hợp từ xác định nghĩa riêng.
Tương ưng tà kiến (Pāli: diṭṭhigatasampayutta) thuộc họ kỹ thuật sampayutta; toàn hợp từ xác định nghĩa riêng.
Bất tương ưng tà kiến (Pāli: diṭṭhigatavippayutta) thuộc họ kỹ thuật vippayutta; toàn hợp từ xác định nghĩa riêng.
Tâm sở biến hành (Pāli: sabbacittasādhāraṇa) được dùng theo nghĩa kỹ thuật: sự biết/cognizing một đối tượng tại một sát-na; được phân loại theo cảnh giới, nhân, thọ, trí và chức năng.
Tâm sở bất thiện (Pāli: akusala-cetasika) được dùng theo nghĩa kỹ thuật: pháp tâm lý sinh cùng tâm, cùng diệt, cùng đối tượng và cùng căn cứ theo hệ thống Theravāda.
Thọ do nhãn xúc (Pāli: cakkhu-samphassajā-vedanā) được dùng theo nghĩa kỹ thuật: sự tiếp xúc của căn, cảnh và thức trong một sát-na nhận thức.
Tưởng qua nhãn (Pāli: cakkhu-saññā) được dùng theo nghĩa kỹ thuật: tâm sở ghi dấu/nhận dạng đặc điểm của đối tượng.
Lộ nhãn môn (Pāli: cakkhu-dvāra-vīthi) thuộc cơ sở/căn vật chất của nhận thức giác quan hoặc căn cứ vật chất theo phân tích Theravāda.
Thọ do nhĩ xúc (Pāli: sota-samphassajā-vedanā) được dùng theo nghĩa kỹ thuật: sự tiếp xúc của căn, cảnh và thức trong một sát-na nhận thức.
Tưởng qua nhĩ (Pāli: sota-saññā) được dùng theo nghĩa kỹ thuật: tâm sở ghi dấu/nhận dạng đặc điểm của đối tượng.
Lộ nhĩ môn (Pāli: sota-dvāra-vīthi) thuộc cơ sở/căn vật chất của nhận thức giác quan hoặc căn cứ vật chất theo phân tích Theravāda.
Thọ do tỷ xúc (Pāli: ghāna-samphassajā-vedanā) được dùng theo nghĩa kỹ thuật: sự tiếp xúc của căn, cảnh và thức trong một sát-na nhận thức.
Tưởng qua tỷ (Pāli: ghāna-saññā) được dùng theo nghĩa kỹ thuật: tâm sở ghi dấu/nhận dạng đặc điểm của đối tượng.
Lộ tỷ môn (Pāli: ghāna-dvāra-vīthi) thuộc cơ sở/căn vật chất của nhận thức giác quan hoặc căn cứ vật chất theo phân tích Theravāda.
Thọ do thiệt xúc (Pāli: jivhā-samphassajā-vedanā) được dùng theo nghĩa kỹ thuật: sự tiếp xúc của căn, cảnh và thức trong một sát-na nhận thức.
Tưởng qua thiệt (Pāli: jivhā-saññā) được dùng theo nghĩa kỹ thuật: tâm sở ghi dấu/nhận dạng đặc điểm của đối tượng.
Lộ thiệt môn (Pāli: jivhā-dvāra-vīthi) thuộc cơ sở/căn vật chất của nhận thức giác quan hoặc căn cứ vật chất theo phân tích Theravāda.
Thân xúc (Pāli: kāya-samphassa) được dùng theo nghĩa kỹ thuật: sự tiếp xúc của căn, cảnh và thức trong một sát-na nhận thức.
Thọ do thân xúc (Pāli: kāya-samphassajā-vedanā) được dùng theo nghĩa kỹ thuật: sự tiếp xúc của căn, cảnh và thức trong một sát-na nhận thức.
Tưởng qua thân (Pāli: kāya-saññā) được dùng theo nghĩa kỹ thuật: tâm sở ghi dấu/nhận dạng đặc điểm của đối tượng.
Lộ thân môn (Pāli: kāya-dvāra-vīthi) thuộc phân tích cửa nhận thức trong tiến trình tâm.
Ý xúc (Pāli: mano-samphassa) được dùng theo nghĩa kỹ thuật: sự tiếp xúc của căn, cảnh và thức trong một sát-na nhận thức.
Thọ do ý xúc (Pāli: mano-samphassajā-vedanā) được dùng theo nghĩa kỹ thuật: sự tiếp xúc của căn, cảnh và thức trong một sát-na nhận thức.
Tưởng qua ý (Pāli: mano-saññā) được dùng theo nghĩa kỹ thuật: tâm sở ghi dấu/nhận dạng đặc điểm của đối tượng.
Lộ ý môn (Pāli: mano-dvāra-vīthi) thuộc phân tích cửa nhận thức trong tiến trình tâm.